Tin tức

BỆNH LÝ U PHỔI: Ý NGHĨA CỦA CHẨN ĐOÁN GIẢI PHẪU BỆNH VÀ LƯU Ý VỚI NGƯỜI BỆNH

Ngày 24/12/2023
BS Nguyễn Thị Duyên
Ung thư phổi là bệnh một trong những bệnh lý ác tính thường gặp và có tỷ lệ tử vong hàng đầu trong các ung thư trên toàn thế giới hiện nay. Tuy nhiên ngoài ung thư phổi, các u lành tính khác của phổi cũng khá thường gặp. Chẩn đoán giải phẫu bệnh là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán các bệnh lý u phổi, giúp các nhà lâm sàng biết được bệnh nhân có u phổi là u lành tính hay ác tính, từ đó lên phương án điều trị tối ưu cho bệnh nhân

Phân loại bệnh lý u phổi

Chẩn đoán và điều trị ung thư phổi cần sự phối hợp của nhiều chuyên ngành. Việc định típ mô bệnh học hết sức quan trọng, không những giúp chẩn đoán xác định bệnh mà còn giúp định hướng cho điều trị và tiên lượng. Ung thư phế quản phổi là loại ung thư xuất phát từ các tế bào biểu mô phế quản, phế nang. Đây là một trong những ung thư thường gặp nhất, có tỉ lệ mắc mới cao nhất và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư trên toàn thế giới hiện nay. Theo Globocan 2018, ung thư phổi có tỉ lệ mắc mới cao nhất trong tất cả các loại ung thư ở cả 2 giới, chiếm 11,6% tổng số bệnh nhân ung thư, và là loại ung thư gây tử vong hàng đầu với 1,761 triệu ca tử vong năm 2018. Ở Việt Nam, ung thư phổi có tỉ lệ mắc hàng đầu ở cả 2 giới; đứng thứ nhất ở nam; đứng thứ 2 ở nữ sau ung thư vú. Tỉ lệ tử vong cao, chiếm 20,6% trong tất cả các trường hợp tử vong do ung thư. Phân loại của Tổ chức Y tế Thế Giới năm 2021 chia u phổi thành 3 nhóm lớn: các u biểu mô, u thần kinh nội tiết và u mô đệm đặc hiệu của phổi.


1.1. U biểu mô của phổi

Các u biểu mô phổi có thể là u lành hoặc u ác tính. Một số tổn thương là tiền ung thư. Tùy theo u phổi là loại gì sẽ có phương pháp điều trị và tiên lượng khác nhau.

Các u lành tính của phổi

U nhú: thường xuất hiện ở khí phế quản lớn. U nhú được chia thành các loại sau:

+ U nhú biểu mô vảy: tổn thương u nhú được cấu tạo bởi trục liên kết xơ mạch lợp bởi tế bào biểu mô vảy bề mặt. U này có thể đơn độc, nhiều u hoặc dạng đảo ngược

+ U nhú tuyến: là một loại u nhú lành tính lợp bởi tế bào trụ không có lông chuyển

+ U nhú hỗn hợp vảy và tuyến: là tổn thương phối hợp giữa biểu mô vảy và biểu mô trụ không có lông chuyển, mỗi loại biểu mô phải chiếm ít nhất 1/3 thành phần biểu mô.


U nhú biểu mô vảy

U nhú là những u lành tính. U nhú biểu mô vảy có khoảng ½ liên quan đến nhiễm HPV, với các típ 6, 11 thì hay gặp trong u nhú đơn độc hoặc đa u nhú, các trường hợp HPV nguy cơ cao như 16, 18, 31/33/35 có thể có chuyển dạng ác tính. Với những trường hợp được phẫu thuật cắt bỏ u, u được loại bỏ hoàn toàn. Nếu chỉ cắt qua nội soi phế quản, u có nguy cơ tái phát tại chỗ.

- U tuyến: đây là những u lành tính của phổi

+ U phế bào xơ hóa: là u xuất phát từ phế nang, bao gồm hai quần thể tế bào, tế bào bề mặt trông như phế bào típ II, xen lẫn tế bào tròn. Mô u có thể có cấu trúc đặc, nhú, xơ hóa hoặc chảy máu. Bệnh nhân thường không có triệu chứng lâm sàng và phát hiện tình cờ khi chụp phim X-quang. U có thể cắt bỏ hoàn toàn.

+ U tuyến phế nang: là một u có ranh giới rõ bao gồm các nang giãn rộng lợp bởi một hàng tế bào phế bào típ II trên nền mô đệm giàu tế bào thoi. U này cũng thường phát hiện tình cờ vì không có triệu chứng lâm sàng. U có thể cắt bỏ hoàn toàn qua phẫu thuật.

+ U tuyến nhú: đây là u nhú có vỏ bao gồm các tế bào hiền hòa, dạng trụ hoặc khối lợp trên trục liên kết xơ mạch. U có ranh giới rõ và thường phát hiện tình cờ khi chụp phim x-quang. U có thể được chữa khỏi hoàn toàn bằng phẫu thuật.

+ U tuyến phế quản: là u lành tính ở ngoại vi phổi bao gồm hai lớp tế bào biểu mô típ phế quản và lớp tế bào đáy. Phần lớn u được phát hiện tình cờ. Tất cả các bệnh nhân được điều trị phẫu thuật đều không ghi nhận có tái phát và di căn.

+ U tuyến nang nhầy: là tổn thương u dạng nang chứa chất nhầy, bao quanh bởi tế bào trụ chế nhầy và không có đặc điểm không điển hình hay xâm nhập. U thường phát hiện tình cờ mà không có triệu chứng lâm sàng.

Các tổn thương tiền ung thư

- Tăng sản u tuyến không điển hình: là tổn thương tăng sinh nhỏ (≤5mm), các tế bào phế bào típ II và/hoặc tế bào chày không điển hình mức độ nhẹ đến trung bình, lợp thành phế nang và đôi khi là phế quản. Trong phân loại tiền ung thư, tăng sản u tuyến không điển hình được cho là tổn thương tiền thân của ung thư biểu mô tuyến tại chỗ. Bệnh nhân có thể được chữa khỏi bằng phương pháp phẫu thuật. Tuy nhiên trên thực tế, tổn thương này rất nhỏ và không phát hiện được qua chẩn đoán hình ảnh mà thường được phát hiện ở mô kế cận của bệnh nhân ung thư phổi sau phẫu thuật.

Tăng sản u tuyến không điển hình

Tăng sản u tuyến không điển hình

- Ung thư biểu mô tuyến tại chỗ của phổi: là ung thư biểu mô tuyến có kích thước nhỏ (≤30mm), tế bào u phát triển giới hạn theo cấu trúc phế nang (thành phần lepidic đơn thuần và không có xâm nhập). Chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến tại trên giải phẫu bệnh yêu cầu phải thực hiện trên bệnh phẩm phẫu thuật khi đánh giá u phổi một cách toàn diện, không sử dụng thuật ngữ này trên sinh thiết nhỏ và bệnh phẩm tế bào học. Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến tại chỗ có tỷ lệ sống không tái phát bệnh là 100% nếu u phổi được cắt bỏ hoàn toàn.

- Loạn sản biểu mô vảy và ung thư tại chỗ: là tổn thương tiền ung thư và tiền xâm nhập của ung thư biểu mô tế bào vảy, phát triển từ biểu mô phế quản. Triệu chứng bệnh không rõ ràng và phát hiện tình cờ qua nội soi phế quản. Tỷ lệ bệnh tăng cao ở những người nghiện thuốc lá nặng hoặc bệnh nhân tắc nghẽn đường thở.

Ung thư biểu mô

Ung thư biểu mô phổi có rất nhiều típ mô bệnh học. Nhưng trên thực tế lâm sàng thường gặp nhất là các típ mô bệnh học sau:

- Ung thư biểu mô tế bào vảy: Ung thư biểu mô tế bào vảy thường khu trú ở trung tâm, nghĩa là phát sinh từ những phế quản lớn nên dễ thấy trong nội soi và dễ lấy bệnh phẩm hơn một số típ u khác

- Ung thư biểu mô tuyến: u phổi ác tính với các mẫu u hình ống, dạng tuyến nang hoặc nhú hoặc chế nhầy do tế bào u. Sự chế nhầy nội bào hoặc chất nhầy trong lòng ống là đặc điểm quan trọng giúp cho chẩn đoán. Ung thư biểu mô tuyến thường ở ngoại vi, chia thành nhiều típ. Một số thứ típ thường gặp:

+ Ung thư biểu mô tuyến tế bào nang: các nang và tuyến được hình thành bởi các tế bào hình khối, trụ có tiết nhầy, giống như tế bào tuyến phế quản.

+ Ung thư biểu mô tuyến nhú: cấu trúc nhú chiếm ưu thế, tế bào phủ lên trục liên kết có thể chế nhầy hoặc không chế nhầy, hình khối, trụ cao. Có thể có thể cát.

+ Ung thư biểu mô lepidic: các tế bào trụ cao chế nhầy lót các vách phế nang, tế bào u hình trụ phát triển trên vách phế nang có trước.

+ Ung thư biểu mô thể đặc: không hình thành cấu trúc ống, tuyến hoặc nang, gồm các đám tế bào đa diện.

+ Ung thư biểu mô tuyến keo hoặc nhầy: gồm các bể chất nhầy chứa mô u.

- Ung thư biểu mô tuyến vảy: Một ung thư cho thấy cả hai thành phần ung thư biểu mô dạng vảy và ung thư biểu mô tuyến

- Ung thư biểu mô tế bào lớn: Là chẩn đoán loại trừ các típ khác như: típ vảy, tuyến, tế bào nhỏ.

1.2. U thần kinh nội tiết

U thần kinh nội tiết của phổi được chia thành u carcinoid điển hình độ thấp, u carcinoid không điển hình độ trung gian và ung thư thần kinh nội tiết bao gồm ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tế bào nhỏ và ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tế bào lớn.

U thần kinh nội tiết điển hình

U thần kinh nội tiết điển hình

- U carcinoid điển hình: u ≥ 5mm, có hình thái thần kinh nội tiết và < 2 nhân chia/2mm2, không có hoại tử

- U carcinoid không điển hình: u có hình thái thần kinh nội tiết, 2-10 nhân chia/2mm2, và/hoặc hoại tử

- Ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tế bào lớn: u thần kinh nội tiết, tỷ lệ nhân chia cao >10 nhân chia/2mm2, trung bình là 70 nhân chia/2mm2, hoại tử (thường vùng rộng), đặc điểm tế bào nhân lớn, tỷ lệ nhân/ bào tương thấp, chất nhiễm sắc tăng, mịn, có thể có hạt nhân, dương tính với một hoặc nhiều dấu ấn hóa mô miễn dịch thần kinh nội tiết

- Ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tế bào nhỏ: tế bào có kích thước nhỏ (thường nhỏ hơn đường kính 3 lần lympho bào nhỏ), bào tương hẹp, chất nhiễm sắc dạng hạt mịn, không có hạt nhân, tỷ lệ nhân chia cao >10 nhân chia/2mm2, trung bình là 80 nhân chia/2mm2, hoại tử (thường vùng rộng)

Các u thần kinh nội tiết đều là u ác tính nhưng có tiên lượng khác nhau. U carcinoid điển hình có thời gian sống thêm 5 năm là từ 82-100%, trong khi u không điển hình có tỷ lệ sống thêm 5 năm là 50-68%. Khoảng 10-23% u điển hình và 40-50% u không điển hình có nốt di căn. Trong khi đó tiên lượng của ung thư biểu mô tế bào nhỏ ở giai đoạn giới hạn dược điều trị hóa chất và xạ trị có thời gian sống thêm trung bình là 25-30 tháng, thời gian sống thêm 5 năm là 31-34%. Nếu u ở giai đoạn IV thì tiên lượng xấu, thời gian sống thêm khi điều trị hóa chất thường quy là 8% trong 2 năm và 2% trong 5 năm. Ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tế bào lớn là một u tiến triển, bệnh nhân được cắt bỏ u hầu như đều tái phát tại chỗ và di căn, có tỷ lệ sống thêm ngắn hơn bệnh nhân ung thư biểu mô không tế bào nhỏ dù u ở giai đoạn I.

1.3. Các u mô đệm đặc hiệu của phổi

- U thừa (hamartoma): là u lành tính của mô đệm với ít nhất hai thành phần trung mô xen lẫn biểu mô đường thở

- U sụn: u lành tính của mô sụn, thường gặp ở ngoại vi phổi và không có triệu chứng lâm sàng.

- Intimal sarcoma mạch máu phổi: u ác tính của trung mô phát tiển từ mạch máu lớn của hệ tuần hoàn phổi. Đây là một u ác tính tiên lượng xấu, thời gian sống trung bình là từ 1-3 năm.

Những lưu ý với người bệnh

Bệnh lý u phổi có rất nhiều loại, một số u lành tính có thể chữa khỏi hoàn toàn, tuy nhiên có nhiều u ác tính có tiên lượng xấu. Bệnh nhân u phổi có thể có triệu chứng lâm sàng nhưng có nhiều u không có triệu chứng, tiến triển thầm lặng và chỉ phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn. Một số triệu chứng lâm sàng có thể gặp như:

- Ho kéo dài và tăng dần theo thời gian;

- Khó thở;

- Đau ngực;

- Khò khè;

- Ho ra máu;

- Khàn tiếng;

- Ăn không ngon miệng;

- Giảm cân không rõ nguyên nhân;

- Mệt mỏi không rõ nguyên nhân;

- Đau vai;

- Sưng vùng cổ, mặt, cánh tay hoặc phần trên ngực (hội chứng tĩnh mạch chủ trên).

- Đồng tử nhỏ, mí mắt sụp một bên hoặc không có mồ hôi ở bên mặt đó (hội chứng Horner)

Các dấu hiệu này trông giống như những bệnh bệnh lý khác mà không đặc hiệu cho u phổi. Nhiều u phổi được phát hiện tình cờ qua chụp phim x-quang hoặc CT. Vì vậy khám sức khỏe định kỳ rất quan trọng. Bên cạnh đó, việc xác định bản chất u qua xét nghiệm giải phẫu bệnh đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong chẩn đoán và điều trị bệnh.

Hiện tại Hệ thống Y tế MEDLATEC có cung cấp đầy đủ các dịch vụ khám sức khỏe định kỳ, thăm khám chuyên khoa hô hấp, xét nghiệm giải phẫu bệnh chẩn đoán u phổi. Mọi thông tin liên quan, quý khách hàng có thể liên hệ tổng đài 1900 56 56 56 để được tư vấn cụ thể.

Bình luận ()

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt trước khi đăng.

Lựa chọn dịch vụ

Quý khách hàng vui lòng lựa chọn dịch vụ y tế theo nhu cầu!

Lấy mẫu xét nghiệm tại nhà

Lấy mẫu xét nghiệm tại nhà giúp khách hàng chủ động tầm soát bệnh lý. Đồng thời tiết kiệm thời gian đi lại, chờ đợi kết quả với mức chi phí hợp lý.

Đặt lịch thăm khám tại MEDLATEC

Đặt lịch khám tại cơ sở khám chữa bệnh thuộc Hệ thống Y tế MEDLATEC giúp chủ động thời gian, hạn chế tiếp xúc đông người.