Homocysteine: dấu ấn sinh học của tim bệnh mạch, đột quỵ, của homocysteine niệu bẩm sinh hoặc của sự thiếu hụt vitamin B6, B12 và folate | Medlatec

Homocysteine: dấu ấn sinh học của tim bệnh mạch đột quỵ của homocysteine niệu bẩm sinh hoặc của sự thiếu hụt vitamin B6 B12 và folate

Ngày 06/10/2015 PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật - Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC

PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật - Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC


Homocysteine là một acid amin chứa nhóm sulfhydryl, là một sản phẩm trung gian trong sự tổng hợp bình thường của các acid amin methionine và cysteine (Hình 1)


Hình 1. Công thức và cấu trúc phân tử của homocysteine


1. Sinh học của homocysteine

Homocysteine (Hcy) được tổng hợp theo con đường khử methyl của methionine (Met) từ thức ăn protein động vật. Homocysteine có trong huyết tương dưới 4 dạng: khoảng 1% dưới dạng thiol tự do, 70-80% dạng disulphide gắn protein huyết tương (chủ yếu gắn với albumin) và 20-30% tự kết hợp với nhau thành các homocysteine dimer hoặc với các thiol khác. Homocysteine là một chất then chốt (key) của chu trình methyl hóa. Nó được methyl hóa để thành methionine, chất này S-adenosyl hóa để tạo thành S-adenosylmethionine (SAM). SAM là chất cho nhóm methyl chủ yếu của tất cả các phản ứng methyl hóa trong các tế bào. Nhóm methyl gắn vào S bậc 3 của SAM có thể được vận chuyển để methyl hóa các cơ chất khác. Sự tách methyl này dẫn đến tạo thành S-adenosylhomocysteine (SAH). Sự thủy phân SAH sẽ tạo thành homocysteine và adenosine. Homocysteine có thể chuyển hóa theo 2 con đường:

- Khi thiếu methione, homocysteine sẽ được methyl hóa trở lại để tạo thành methione nhờ sự xúc tác của enzyme N5, N10-methylenetetrahydrofolate reductase (BHMT).

- Khi đủ methionine, homocysteine sẽ thoái hóa thành cysteine nhờ sự xúc tác của các enzyme cystathionine-β-synthase (CBS) có coenzyme là vitamin B6 và cystathionine-γ-lyase (Hình 2).

Hình 2. Sự chuyển hóa của homocysteine có sự tham gia của các enzyme có các cofactor là các vitamin B6, B12 và acid folic

2. Sử dụng của homocysteine

Xét nghiệm homocysteine ​​có thể được sử dụng trong các trường hợp sau:

- Homocysteine ​​có thể được sử dụng ở người có nguy cơ cao bị nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ, có thể hữu ích ở người có tiền sử gia đình có người bị bệnh động mạch vành nhưng bản thân không có yếu tố nguy cơ khác như hút thuốc lá, huyết áp cao hoặc béo phì.

- Xét nghiệm homocysteine ​​máu cũng có thể được sử dụng để chẩn đoán homocysteine niệu (homocystinuria) nếu nghi ngờ trẻ sơ sinh hoặc trẻ em có thể có rối loạn di truyền. Khi xét nghiệm sàng lọc methionine huyết tương ở trẻ sơ sinh, methionine tăng có thể dấu hiệu của homocysteine niệu, cần phải xét nghiệm tiếp homocysteine ​​máu và nước tiểu để xác nhận rối loạn này.

- Xét nghiệm homocysteine còn có thể được sử dụng ​​để xác định xem một người có thiếu hụt vitamin B12 hoặc folate hay không. Xét nghiệm homocysteine ​​nên được sử dụng ở những người bị suy dinh dưỡng, người cao tuổi, người suy dinh dưỡng, người nghiện ma túy hoặc rượu.

3. Chỉ định

3.1. Ở người trưởng thành, xét nghiệm homocysteine ​​có thể được chỉ định khi bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc đông máu mà không có các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch như hút thuốc lá, tăng huyết áp, cholesterol cao hoặc đái tháo đường,... để đánh giá mức độ và tiên lượng của bệnh.

3.2. Ở trẻ sơ sinh và trẻ em, xét nghiệm homocysteine máu và nước tiểu thường được chỉ định để phát hiện sớm homocysteine máu tăng do di truyền nếu trẻ có tiền sử gia đình của bệnh này hoặc trẻ có các triệu chứng như lệch thủy tinh thể, biến dạng cơ thể, thiểu năng trí tuệ hoặc có dấu hiệu đột quỵ.

3.3. Xét nghiệm này còn có thể được chỉ định ở những người có các triệu chứng của thiếu hụt các vitamin B6, B12 và folat như: tiêu chảy, chóng mặt, mệt mỏi, yếu, ăn mất ngon, da xanh, nhịp tim nhanh, khó thở, đau lưỡi và miệng, ngứa ở tay, chân, … để phát hiện sự thiếu hụt các vitamin này.

4. Giá trị bình thường

Giá trị bình thường (tham chiếu) của homocysteine huyết thanh người bình thường là 5 – 15 µmol/L, có thể thay đổi theo tuổi như sau:

- Tuổi 0-30: 4,6 - 8,1 µmol/L

- Tuổi 30 – 59: 6,3 - 11,2  µmol/L (đối với nam) và 4,5 - 7,9 µmol/L (đối với nữ)

- Tuổi > 59: 5,8 - 11,9 µmol/L

Giá trị bình thường của homocysteione nước tiểu (nước tiểu 24 giờ) tính theo creatinine niệu là 0 - 9 µmol/g creatinine.

Các giá trị trên có thể khác nhau chút ít phụ thuộc vào máy phân tích sử dụng.

5. Ý nghĩa lâm sàng


- Sự tăng homocysteine máu (hyperhomocysteinemia) được xác định khi mức độ homocysteine máu >15 µmol/L. Mức độ 16 – 30 µmol/L được xem là tăng nhẹ, 31-100 µmol/L là tăng trung bình và >100 µmol/L là tăng homocysteine nặng.

- Mức độ homocysteine máu sẽ tăng khi homocysteine không thể chuyển hóa thành cysteine hoặc chuyển hóa ngược lại thành dạng methionine nhờ các enzyme tương ứng (Ganguly P 2015 [4]). Có 2 dạng tăng homocysteine:

(1) Dạng tăng homocysteine nặng nhưng hiếm chủ yếu là do sự đột biến các gen tổng hợp các enzyme liên quan đến chuyển hóa homocysteine như 5, 10-methylene tetrahydrofolate reductase (MTHFR), methyonine synthase (MS) và cystathionine-β-synthase (CBS). Vitamin B6, B12 và acid folic là các chất công tác (cofactors) cần thiết cho các enzyme trong chuyển hóa homocysteine - methionine (Hình 2).

(2) Dạng tăng homocysteine thường gặp gây nên sự tăng vừa phải của homocysteine máu liên quan đến bệnh lý do các yếu tố di truyền và môi trường.

- Mức độ tăng của homocysteine huyết tương có liên quan đến bệnh tim mạch và các biến chứng của nó như nhồi máu cơ tim, đột quỵ và cục máu đông. Homocysteine cao có thể dẫn đến tăng các tác dụng có hại của các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch như tăng huyết áp, hút thuốc lá, rối loạn chuyển hóa lipid và lipoprotein, cũng như thúc đẩy quá trình viêm (Baszczuk A 2014 [2]). Nhiều nghiên cứu cho thấy những người có nồng độ homocysteine ​​tăng có nguy cơ nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ cao hơn so với những người có mức độ homocysteine bình thường. Người ta cũng thấy có sự liên quan giữa mức độ homocysteine tăng với độ nặng của bệnh tim mạch (Senov 2014 [7], với tần suất bệnh mạch vành, động mạch cảnh và bệnh mạch ngoại biên (Okura T 2014 [6]). Tuy nhiên, việc làm thấp mức độ homocysteine ​​bằng cách bổ sung vitamin B6, B12 và acid folic B đã không chỉ ra được bất kỳ tác dụng có ý nghĩa nào đối với nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc tử vong bởi bất kỳ nguyên nhân nào khi so sánh với nhóm đối chứng (Mannge H 2014 [5]). Như vậy, sự tăng homocysteine chỉ là một dấu ấn sinh học mới lạ (novel biomarker) mà không phải là yếu tố nguy cơ (risk factor) của bệnh tim mạch, đột quỵ và tử vong. Người ta thấy rằng ba phần tư bệnh mạch vành tim có sự đóng góp của các yếu tố nguy cơ “cổ điển” như rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, đái tháo đường và hút thuốc lá, còn homocysteine chỉ có thể giúp dự đoán mức độ của bệnh. Cũng có sự liên quan giữa mức độ homocysteine tăng với huyết khối tĩnh mạch sâu và nghẽn tắc phổi. Người ta còn thấy có sự liên quan giữa mức độ homocysteine tăng và sự tăng huyết áp tâm trương và tâm thu. Nồng độ homocysteine tăng 5 µmol/L thì ở nam, huyết áp tâm trương tăng 0,5 và huyết áp tâm thu tăng 0,7 mmHg, còn ở nữ huyết áp tăng mạnh hơn, tương ứng là 0,7 và 1,2 mmHg. Mức độ homocysteine cao làm thay đổi các tiểu phần LDL và HDL, viêm, rối loạn đông máu và phân giải fibrin. Mức độ homocysteine cao cũng dẫn đến những tác dụng hóa sinh, gây nên tổn thương các tế bào biểu mô, rối loạn chức năng co giãn của thành mạch, gây tăng huyết áp (Baszczuk A 2014 [1]).

- Mức độ tăng của homocysteine cũng liên quan đến bệnh của não và hệ thống thần kinh trung ương: người ta thấy có sự liên quan giữa sự tăng homocysteine máu và các rối loạn thoái hóa thần kinh trung ương. Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng homocysteine có khả năng kích hoạt tổn thương thần kinh theo con đường tress oxy (oxidative stress), tổn thương DNA và hoạt hóa các yếu tố trước sự chết tế bào theo chương trình (pro-apoptotic factors) ở các tế bào nuôi cấy và trên mô hình động vật (Curro M và cs 2014 [3]). Mức độ tăng của homocysteine có thể liên quan đến sự thay đổi sức khỏe tâm thần như suy giảm nhận thức, sa sút trí tuệ, trầm cảm, bệnh Alzheimer’s và Parkinson’s.

- Homocysteine niệu là một bệnh di truyền hiếm gặp ở trẻ em: những bất thường về gen có thể dẫn đến sự thiếu hụt một số enzyme của sự chuyển hóa acid amin methionine, giai đoạn homocysteine thành cystein (chẳng hạn như cystathionine beta synthase: CBS), homocysteine không chuyển hóa được bị ứ lại, tăng cao trong máu, gây nên homocysteine niệu. Bệnh này có thể dẫn những bất thường của hệ thống cơ xương, thay đổi vị trí thủy tinh thể, ngực lép, thân mình mảnh, thiểu năng trí tuệ và cơn tai biến. Ở những trẻ có bệnh sử gia đình có homocysteine niệu, việc sàng lọc để phát hiện sớm sự tăng homocysteine huyết tương có thể giúp ngăn ngừa sự khiếm khuyết chuyển hóa methionin. Hơn nữa, ở  những trẻ có khuyết tật về mắt như cận thị, thay đổi vị trí thủy tinh thể, bất thường về xương hoặc về hình dạng cơ thể, cần phải được sàng lọc để phát hiện sớm sự tăng homocysteine máu.

Ngoài ra, người ta cũng thấy có sự liên quan giữa mức độ homocysteine tăng và sự gẫy xương, đặc biệt là ở người già. Còn ở phụ nữ có thai, homocystein máu có khuynh hướng giảm; sự tăng homocysteine có thể liên quan đến một số bất thường về thai và độ bền thành mạch ở nhau thai. Sự tăng homocysteine cũng liên quan đến tiền sản giật.

Một số điểm cần chú ý

- Sự vắng mặt của enzyme cystathionine beta synthase (xem hình 2) là nguyên nhân phổ biến nhất của ứ đọng homocystine, gây nên homocystine niệu. Khi vắng mặt enzyme này, xét nghiệm phân tích gen cần được chỉ định để kiểm tra các đột biến gen phổ biến nhất.

- Mức homocysteine ​​có thể tăng theo tuổi, hút thuốc lá hoặc khi sử dụng các loại thuốc như carbamazepine, methotrexate, và phenytoin. Mức độ homocysteine ở phụ nữ thấp hơn ở nam giới; tăng sau mãn kinh, điều này có thể do giảm sản xuất estrogen.

- Ngũ cốc là nguồn chính của axit folic, trong khi đó trái cây và rau quả có nhiều vitamin B6, còn vitamin B12 có nhiều trong các loại thịt đỏ, thịt gia cầm, cá và các loại hải sản khác.

- Một số loại thuốc có thể làm tăng hoặc giảm mức độ homocysteine huyết tương, do đó có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm: azaribine, carbamazepine, methotrexate, nitơ oxit và phenytoin có thể làm tăng nồng độ homocysteine.


Kết luận

1. Sự chuyển hóa của homocysteine từ methionine trong tế bào có sự tham gia một số enzyme có các cofactor là các vitamin B6, B12 và acid folic.

2. Xét nghiệm homocysteine có thể được sử dụng như một dấu ấn sinh học của bệnh tim mạch, đột quỵ, của homocystein niệu bẩm sinh ở trẻ em hoặc của sự thiếu hụt vitamin B6, B12 và folate.

3. Mức độ homocysteine có thể tăng trong bệnh tim mạch, đột quỵ, trong homocystein niệu bẩm sinh ở trẻ em hoặc khi thiếu hụt vitamin B6, B12 và folate.

4. Homocysteine chỉ được xem là một dấu ấn sinh học mà không được xem như một yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch bởi vì việc bổ sung vitamin B6, B12 hoặc folate không làm giảm được nguy cơ của các bệnh này.

Tài liệu tham khảo

- Baszczuk A, Kopczyński Z, Thielemann A. Endothelial dysfunction in patients with primary hypertension and hyperhomocysteinemia. Postepy Hig Med Dosw 2014; 68: 91-100. 
- Baszczuk A, Kopczynski Z. Hyperhomocysteinemia in patients with cardiovascular disease. Postepy Hig Med Dosw 2014; 68: 579. 
- Curro M, Gugliandolo A, Gangemi C, et al. Toxic effects of mildly elevated homocysteine concentrations in neuronal-like cells. Neurochem Res 2014; 39: 1485-1495.  
- Ganguly P and Alam SF. Role of homocysteine in the development of cardiovascular disease. Nutr J 2015; 14: 6.
- Mangge H, Becker K, Fuchs D, Gostner JM. Antioxidants, inflammation and cardiovascular disease. World J Cardiol 2014; 6(6): 462-477.  
- Okura T, Miyoshi K, Irita J, et al. Hyperhomocysteinemia is one of the risk factors associated with cerebrovascular stiffness in hypertensive patients, especially elderly males.Nature.com Sci Rep. 2014; 4: 5663. 
- Shenov V, Mehendale V, Prabhu K, Shetty R, Rao P. Correlation of serum homocysteine levels with the severity of coronary artery disease. Ind J Clin Biochem  2014; 29(3): 339-344.  OpenURLOpenURL

Chương trình miễn phí tổng phân tích máu và men gan

Đăng ký khám, tư vấn

Tại sao nên chọn bệnh viện đa khoa MEDLATEC

Bệnh viện đa khoa nhiều năm kinh nghiệm.
Đội ngũ giáo sư, bác sĩ đầu ngành
Đội ngũ giáo sư, bác sĩ đầu ngành
Cơ sở vật chất hiện đại
Áp dụng thanh toán bảo hiểm y tế lên tới 100%
Quy trình khám chữa bệnh nhanh chóng
Chi phí khám chữa bệnh hợp lý.

Tin cùng chuyên mục

Ý nghĩa và quy trình thực hiện xét nghiệm dịch não tuỷ

Ý nghĩa và quy trình thực hiện xét nghiệm dịch não tuỷ

Xét nghiệm dịch não tủy có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc chẩn đoán, điều trị và tiên lượng các bệnh liên quan đến hệ thần kinh trung ương. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ cung cấp đến các bạn những thông tin quan trọng về xét nghiệm dịch não tủy.
Ngày 24/08/2019
Siêu âm tim thai là gì và thời điểm thích hợp để siêu âm tim thai

Siêu âm tim thai là gì và thời điểm thích hợp để siêu âm tim thai

Siêu âm tim thai là phương pháp giúp chẩn đoán tim bẩm sinh ở giai đoạn tiền sản. Song phương pháp này vẫn còn quá xa lạ đối với nhiều bà mẹ. Vì vậy, ở bài viết này,  MEDLATEC xin chia sẻ tới các bà mẹ những điều cần biết về siêu âm thai.
Ngày 23/08/2019
Hàng trăm cơ hội việc làm dành cho các tân bác sĩ trong ngày hội “Định hướng việc làm cho sinh viên Y Hà Nội 2019

Hàng trăm cơ hội việc làm dành cho các tân bác sĩ trong ngày hội “Định hướng việc làm cho sinh viên Y Hà Nội 2019

Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) MEDLATEC và Đại học Y Hà Nội phối hợp tổ chức Ngày Hội định hướng việc làm sinh viên 2019 vào chiều ngày 13/08, tại trường ĐH Y Hà Nội đã thu hút sự quan tâm của hàng trăm tân bác sĩ và tân cử nhân y.
Ngày 14/08/2019
Lễ Vu Lan - Nét đẹp văn hóa tâm linh người Việt

Lễ Vu Lan - Nét đẹp văn hóa tâm linh người Việt

Từ bao đời nay, Lễ Vu Lan luôn là một trong những ngày lễ quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh người Việt. Nó không chỉ thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây của dân tộc ta mà còn là ngày để con cháu báo ân, báo hiếu tổ tiên, ông bà, cha mẹ.
Ngày 10/08/2019
hotline 1900 5656561900 565656