Tin tức

POLYP ĐƯỜNG TIÊU HÓA: NGUY CƠ UNG THƯ VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý

Ngày 15/11/2023
BS. Nguyễn Thị Duyên
Polyp là thuật ngữ để chỉ một cục hay một khối nhô cao trên niêm mạc. Thông thường các khối polyp phát triển trên bề mặt niêm mạc, đôi khi có thể là u mỡ, u cơ trơn hay u mô đệm phát triển trong thành ống tiêu hóa có thể lồi ra niêm mạc gây nên tổn thương dạng polyp. Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ polyp đường tiêu hóa nói chung chỉ hạn chế cho những khối phát triển ở niêm mạc đường tiêu hóa.

Phân loại polyp đường tiêu hóa và nguy cơ ung thư

Polyp đường tiêu hóa có thể phát triển ở bất kỳ phần nào của đường tiêu hóa. Tùy theo hình thái mô bệnh học khác nhau, polyp được phân loại thành các nhóm với nguy cơ ung thư khác biệt.

Niêm mạc đại trực tràng lành và có polyp

Niêm mạc đại trực tràng lành và có polyp

1.1 Polyp dạ dày

- Polyp tăng sản: là loại hay gặp nhất, chiếm đến 90% các trường hợp polyp ở dạ dày và thường thấy nhất trong viêm dạ dày mạn tính.

Polyp tăng sản có kích thước từ vài mm nhưng thường không quá 2cm. Tuy nhiên vẫn có polyp kích thước 2cm đến 4cm và thường có cuống. Số lượng có thể nhiều hoặc ít, có khi tới vài chục polyp.

Polyp tăng sản dạ dày bao gồm các tuyến ống lành tính giãn rộng và mô đệm phù viêm

Polyp tăng sản dạ dày bao gồm các tuyến ống lành tính giãn rộng và mô đệm phù viêm

Đặc điểm mô bệnh học thường biểu hiện các tuyến quá sản xen lẫn mô liên kết tăng sinh, phù nề có xâm nhập tế bào viêm. Niêm mạc mô dạ dày xung quanh phù nề hoặc teo.

- Polyp u tuyến: đây là một u thực sự chiếm 5-10% các tổn thương polyp ở dạ dày. Polyp thường có tổn thương loạn sản và phát triển nhanh vì vậy được coi là tổn thương tiền ung thư. Kích thước của polyp u tuyến thường trên 2cm và lớn dần theo thời gian có thể trên 4cm. Polyp có thể có cuống hoặc không cuống nhưng thường có chân đế rõ. Vị trí thường gặp của polyp u tuyến là vùng hang vị và thường gặp là tổn thương đơn độc.

Đặc điểm mô bệnh học được chia thành 2 loại: polyp u tuyến típ ruột và u tuyến típ bề mặt

+ Polyp u tuyến típ ruột: các tuyến quá sản được lợp bởi tế bào biểu mô trụ xen lẫn nhiều tế bào hình đài chế nhầy và tế bào Paneth (biệt hóa ruột). Tế bào có nhân lớn kéo dài, tăng sắc, bào tương không thấy đỉnh chế nhầy. Mô dạ dày vùng kế cận thường kèm viêm mạn tính và dị sản ruột.

+ Polyp u tuyến típ bề mặt: Tế bào biểu mô trụ ở về mặt có đỉnh chế nhầy, so với tế bào lành bên cạnh, tế bào u tuyến có nhân kéo dài với chất nhiễm sắc tăng, hạt nhân rõ. Mô dạ dày vùng kế cận không thấy viêm, teo hay dị sản.

Polyp gồm cả hai thành phần típ ruột và típ bề mặt gọi là kiểu hình lai. Polyp u tuyến típ ruột có nguy cơ tiến triển thành ung thư cao hơn típ bề mặt. Polyp u tuyến có kiểu hình lai có nguy cơ ung thư hóa cao hơn u tuyến típ ruột đơn độc. Mức độ loạn sản của u tuyến được chia thành loạn sản độ thấp và loạn sản độ cao. Loạn sản độ thấp có tỷ lệ chuyển dạng ung thư là 0,6%, trong khi đó loạn sản độ cao có tỷ lệ chuyển dạng ung thư cao gấp 10 lần loạn sản độ thấp.

1.2 Polyp ruột non và đại trực tràng

Phân loại polyp ruột non và đại trực tràng giống nhau, gồm 2 nhóm chính là polyp giả u và polyp u tuyến

- Polyp giả u: Chiếm tỷ lệ 90% polyp đại tràng. Tỷ lệ gặp gia tăng theo tuổi tác, nhóm này được tìm thấy ở hơn phân nửa số người trên 60 tuổi.

+ Polyp tăng sản

Hầu hết các polyp giả u là polyp tăng sản. Polyp tăng sản thường có kích thước nhỏ dưới 5mm. Đặc điểm mô bệnh học loại polyp này có nhiều tuyến có cấu trúc giống tuyến bình thường với các tế bào hình đài và tế bào hấp thu. Polyp tăng sản là tổn thương lành tính hoàn toàn và có nguy cơ không đáng kể tiến triển thành ác tính.

+ Polyp hamartomatous: bao gồm polyp tuổi trẻ (Juvenile polyp) và polyp Peutz-Jeghers

Polyp tuổi trẻ là một u thừa lành tính của niêm mạc phát triển dạng polyp, thường xuất hiện ở thiếu niên và trẻ nhỏ. Polyp này thường xuất hiện ở trực tràng và có kích thước khá lớn từ 1-3cm đường kính. Đặc điểm tổn thương trên giải phẫu bệnh là bề mặt biểu bong bong tróc thoái hóa. Mô đệm phù xâm nhập nhiều tế bào viêm xen lẫn các tuyến giãn rộng. Các tuyến này được lợp bởi biểu mô lành tính, không có loạn sản.

Polyp Peutz-Jeghers cũng là một loại u thừa xảy ra ở những người bị hội chứng Peutz-Jeghers. Polyp có kích thước lớn và có cuống, xuất hiện đơn độc hoặc nhiều polyp cũng lúc, phân bố rải rác ống tiêu hóa. Về đặc điểm giải phẫu bệnh, polyp được cấu tạo bởi một lõi xơ collagen và cơ trơn phân nhánh, bao quanh các tuyến được lợp bởi biểu ruột có nhiều tế bào hình đài chế nhầy. Polyp Peutz-Jeghers không có tiềm năng ác tính nhưng ở những người có hội chứng Peutz-Jeghers có sự gia tăng nguy cơ ung thư tuyến tụy, vú, phổi, buồng trứng và tử cung.

- Polyp u tuyến

U tuyến có dạng polyp thì được gọi là polyp u tuyến, ngoài dạng polyp thì u tuyến có thể có dạng phẳng trên hình ảnh nội soi tiêu hóa. U tuyến xuất hiện chủ yếu ở đại tràng với tần suất tăng dần theo tuổi tác, từ 20% ở người dưới 40 tuổi đến trên 50% ở người trên 60 tuổi.

Tùy theo đặc điểm hình thái trên giải phẫu bệnh, polyp u tuyến được chia thành 3 loại:

+ U tuyến ống: loại thường gặp nhất, chiếm đến 90% các polyp u tuyến. Đặc điểm vi thể có cuống, polyp được phủ bởi lớp niêm mạc đại tràng bình thường, bên trong là mô liên kết xơ mạch máu. Phần đầu polyp được lợp bởi biểu mô đại tràng quá sản và loạn sản, tạo thành các ống tuyến méo mó sắp xếp chen chúc nhau. Bên cạnh vùng loạn sản nặng có thể tìm thấy những ổ ung thư tại chỗ hoặc đã xâm nhập lớp hạ niêm mạc trong cuống polyp. Các tuyến đại tràng có thể dạng ống hoặc nhú, chẩn đoán polyp u tuyến ống khi thành phần nhú chiếm tỷ lệ nhỏ (<25%)

+ U tuyến nhú: chiếm tỷ lệ 1% polyp u tuyến. Polyp u tuyến nhú thường xuất hiện ở trực tràng và đại tràng sigma. U tuyến nhú thường có kích thước lớn, có thể đạt tới 10cm đường kính. Đặc điểm vi thể thấy u tuyến nhú cấu tạo bởi các tuyến nhú như những nhung mao ruột chiếm >75% cấu trúc polyp. Các tuyến được lợp bởi biểu mô với các mức độ loạn sản từ thấp tới cao và ung thư tại chỗ hoặc xâm nhập lớp hạ niêm mạc.

+ U tuyến ống nhú: là polyp u tuyến hỗn hợp của hai loại trên, chiếm 5-10%. U có thể có cuống hoặc không cuống, các tế bào biểu mô có thể lợp tuyến ống hoặc nhú nhung mao với các mức độ loạn sản khác nhau.

U tuyến ống có loạn sản độ cao và thành phần ung thư biểu mô tại chỗ trong niêm mạc

U tuyến ống có loạn sản độ cao và thành phần ung thư biểu mô tại chỗ trong niêm mạc

Sự hình thành polyp u tuyến là kết quả của tăng sinh quá sản và loạn sản tế bào biểu mô ruột. Biểu mô có thể loạn sản các mức độ từ thấp tới cao và ung thư biểu mô tại chỗ hoặc xâm nhập. Vì vậy u tuyến là một tổn thương tiền ung thư. Nguy cơ phát triển thành ung thư của polyp u tuyến phụ thuộc vào kích thước, loại u tuyến và mức độ loạn sản. Vì vậy, việc xác định nguy cơ ung thư của polyp đường tiêu hóa có vai trò cực kỳ quan trọng của giải phẫu bệnh trong xác định loại polyp và mức độ loạn sản.

Những điều cần lưu ý với polyp đường tiêu hóa

Hầu hết các polyp đường tiêu hóa đều tiến triển âm thầm mà không có triệu chứng đặc hiệu. Một số bệnh nhân có thể xuất hiện rối loạn tiêu hóa, đau bụng âm ỉ. Với những polyp kích thước có thể gây đau quặn bụng, đại tiện ra máu hoặc có thể gây tắc ruột. Việc thăm khám bằng tay không có nhiều giá trị trong chẩn đoán polyp đường tiêu hóa. Một số polyp trực tràng thấp có thể phát hiện qua thăm khám hậu môn bằng tay hoặc nếu polyp có cuống dài có thể sa qua hậu môn.

Các polyp đường tiêu hóa thường được phát hiện tình cơ qua nội soi ống tiêu hóa. Tỷ lệ gặp tăng theo tuổi. Polyp u tuyến dạ dày thường gặp ở tuổi 70 trở lên, trong khi đó polyp u tuyến ở đại trực tràng có thể gặp đến 50% ở người 60 tuổi. Vì vậy, việc khám sức khỏe và nội soi định kỳ có vai trò rất quan trọng trong việc tầm soát các tổn thương tiền u và ung thư sớm của dạ dày, đại trực tràng.

Một số dấu hiệu lưu ý cho việc khám xét phát hiện tổn thương đường tiêu hóa:

+ Rối loạn tiêu hóa;

+ Đau bụng;

+ Đi ngoài ra máu;

+ Đại tiện phân đen;

+ Táo bón.

Polyp có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào của đường tiêu hóa, vì vậy nội soi dạ dày và toàn bộ khung đại tràng là vô cùng cần thiết. Polyp nhỏ có thể cắt bỏ hoàn toàn khi kết hợp với nội soi. Với những polyp lớn, nếu khó cắt bỏ qua nội soi có thể cần thiết tiến hành mổ mở để cắt đoạn dạ dày, đại trực tràng.

Theo dõi và điều trị tiếp theo phụ thuộc và kết quả giải phẫu bệnh của polyp đường tiêu hóa đã cắt. Nếu polyp là polyp tăng sản thì chỉ cần theo dõi định kỳ. Với những polyp có loạn sản cần đánh giá chân diện cắt polyp và theo dõi sát bằng nội soi tiêu hóa là đủ. Với những bệnh nhân có ung thư xâm lấn phát triển từ polyp đường tiêu hóa, cần phải đánh giá chân diện cắt polyp, tình trạng xâm nhập của u bao gồm độ sâu xâm nhập, tình trạng xâm nhập mạch máu, khoảng cách từ u đến diện cắt đáy, …để cân nhắc cắt đoạn dạ dày, đại tràng.

Vai trò của giải phẫu bệnh trong chẩn đoán polyp đường tiêu hóa là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán và điều trị. Bên cạnh đó, việc tầm soát ung thư đường tiêu hóa sớm bằng nội soi đường tiêu hóa cũng đóng vai trò quan trọng trong phát hiện và điều trị triệt polyp tiền ung thư hoặc ung thư phát triển trên polyp ở giai đoạn sớm. Tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC có dịch vụ xét nghiệm giải phẫu bệnh được thực hiện với các bác sĩ có chuyên môn cao cùng với sự tham gia hội chẩn của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực Giải phẫu bệnh. Quý khách có thể tham khảo dịch vụ qua hotline 1900 56 56 56 để nhận được thông tin chi tiết.

Bình luận ()

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt trước khi đăng.

Lựa chọn dịch vụ

Quý khách hàng vui lòng lựa chọn dịch vụ y tế theo nhu cầu!

Lấy mẫu xét nghiệm tại nhà

Lấy mẫu xét nghiệm tại nhà giúp khách hàng chủ động tầm soát bệnh lý. Đồng thời tiết kiệm thời gian đi lại, chờ đợi kết quả với mức chi phí hợp lý.

Đặt lịch thăm khám tại MEDLATEC

Đặt lịch khám tại cơ sở khám chữa bệnh thuộc Hệ thống Y tế MEDLATEC giúp chủ động thời gian, hạn chế tiếp xúc đông người.