Tin tức

Ý NGHĨA CỦA CÁC KẾT QUẢ PHẾT TẾ BÀO CỔ TỬ CUNG BẤT THƯỜNG

Ngày 09/10/2023
Đặng Anh Phương
Phết tế bào cổ tử cung truyền thống được coi là một trong những xét nghiệm tầm soát ung thư cổ tử cung thành công nhất trong lịch sử, tuy nhiên nhược điểm của phết tế bào cổ tử cung truyền thống là có thể gây ra những trường hợp âm tính giả.

Hệ thống phân loại chẩn đoán tế bào học cổ tử cung Bethesda (gọi tắt là hệ thống Bethesda) đã được ra đời với mục đích truyền tải rõ ràng và đầy đủ ý nghĩa các chẩn đoán tế bào học cổ tử cung đến các nhà lâm sàng, về tiêu chuẩn chất lượng phết tế bào cổ tử cung, trong đó các thuật ngữ như tổn thương nội biểu mô (SIL), tế bào vảy không điển hình (ASC), lần đầu tiên được sử dụng. Bảng phân loại Bethesda đã được tiếp tục cập nhật vào năm 1991, 2001 và lần sau cùng năm 2014; hiện đang được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam.

Bảng phân loại tế bào học cổ tử cung theo hệ thống Bethesda 2014 như sau:

  • Chất lượng xét nghiệm tế bào phết lam kính nhuộm PAP
  1. Không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán
  2. Đủ tiêu chuẩn chẩn đoán
  • Kết quả chẩn đoán tế bào học
  • Không có tổn thương nội biểu mô hoặc ác tính
  1. Biến đổi tế bào không tân sinh:
  •    Dị sản vảy
  • Biến đổi sừng
  • Dị sản vòi trứng
  • Teo
  • Các biến đổi liên quan tới thai kỳ
  • Biến đổi tế bào phản ứng đi kèm với :

+ Viêm (bao gồm sửa chữa không điển hình)

+ Viêm cổ tử cung giàu lympho bào

  • Xạ trị
  • Dụng cụ tránh thai trong tử cung
  • Tình trạng có tế bào tuyến sau cắt tử cung
  1. Nhiễm Vi sinh vật
  • Trichomonas vaginalis
  • Hình thái nấm phù hợp với Candida spp
  • Thay đổi hệ vi khuẩn thường trú gợi ý viêm âm đạo do vi khuẩn
  • Hình thái vi khuẩn phù hợp với Actinomyces spp
  • Biến đổi tế bào phù hợp với Herpes simplex virus
  • Biến đổi tế bào phù hợp với nhiễm Cytomegalovirus
  • Biến đổi tế bào phù hợp với Chlamydial trachomatis
  1. Khác (Tế bào nội mạc ở phụ nữ >=45 tuổi)
  • Bất thường tế bào biểu mô
  1. Tế bào vảy

a/ Tế bào vảy không điển hình (ASC – Atypical squamous cells)

  • Ý nghĩa không xác định (ASC - US)
  • Không loại trừ HSIL (ASC – H)

                 b/Tổn thương nội biểu mô vảy độ thấp (LSIL)

                 c/ Tổn thương nội biểu mô vảy độ cao (HSIL)

  • Có đặc điểm nghi ngờ xâm nhập

                 d/ Ung thư biểu mô tế bào vảy

  1. Tế bào tuyến

a/ Tế bào tuyến không điển hình (AGC)

  • Tế bào tuyến cổ trong
  • Tế bào tuyến nội mạc tử cung
  • Tế bào tuyến

                b/ Tế bào tuyến không điển hình, hướng đến u

  • Tế bào tuyến cổ trong 
  • Tế bào tuyến

                c/ Ung thư biểu mô tuyến cổ trong tại chỗ

                d/ Ung thư biểu mô tuyến

  • Tuyến cổ trong
  • Tuyến nội mạc
  • Tuyến ngoài tử cung
  • Các loại u ác tính khác

 

1. Các bất thường tế bào vảy 

Các bất thường tế bào vảy bao gồm một loạt các biến đổi hình thái tương ứng với các tổn thương nội biểu mô vảy (squamous intraepithelial lesion - SIL), gồm có độ thấp (low-grade squamous intraepithelial lesion - LSIL) và độ cao (high-grade squamous intraepithelial lesion HSIL) và Ung thư biểu mô vảy xâm nhập. Các tế bào vảy có những biến đổi hình thái bất thường nhưng chưa đủ về mặt số lượng và chất lượng để chẩn đoán là LSIL và HSIL, sẽ được xếp vào nhóm tế bào vảy không điển hình (atypical squamous cells - ASC).

1.1 Tế bào vảy không điển hình – có ý nghĩa không xác định (ASC - US)

Trong số các chẩn đoán tế bào học là ASCUS có tới 90% các trường hợp là nghi ngờ LSIL nhưng không đủ về mặt số lượng và chất lượng để có thể chẩn đoán xác định. 

     Đặc điểm tế bào học:

  • Tế bào vảy không điển hình có bào tương giống với tế bào trung gian thường có đặc điểm nhân có kích thước gấp từ 2,5 lần đến dưới 3 lần nhân của tế bào trung gian hoặc gấp 2 lần kích thước nhân của tế bào dị sản vảy, nhân thường tăng sắc nhẹ, chất nhiễm sắc không đều, màng nhân không đều, tỉ lệ nhân/bào tương tăng nhẹ.
  • Tế bào bóng không điển hình (In complete kiolocyte) thường tăng nhẹ kích thước và có tình trạng không điển hình của nhân kèm theo khoảng sáng quanh nhân không có giới hạn rõ rệt như trong tế bào bóng do nhiễm HPV.
  • Tế bào vảy không điển hình trong biến đổi cận sừng: tế bào cận sừng không điển hình đứng thành đám có bào tương bắt màu cam, nhân tăng kích thước với tình trạng không điển hình của nhân mức độ nhẹ.
  • Tế bào vảy không điển hình trong biến đổi sửa chữa: các biến đổi do sửa chữa biểu hiện ở các mức độ chồng lấp tế bào, mất liên kết, nhân to nhỏ không đều hoặc mất cực tính của nhân.
  • Tế bào vảy không điển hình trong biến đổi do teo: trong các đám tế bào cận đáy do teo, có những tế bào có nhân tăng kích thước với tình trạng không điển hình của nhân ở mức độ nhẹ.

 Hình ảnh tế bào vảy không điển hình với khoảng sáng bào tương không rõ trên nền viêm.

Hình ảnh tế bào vảy không điển hình với khoảng sáng bào tương không rõ trên nền viêm.

Hình ảnh tế bào vảy không điển hình có hai nhân và bào tương màu cam, không đủ chẩn đoán LSIL

Hình ảnh tế bào vảy không điển hình có hai nhân và bào tương màu cam, không đủ chẩn đoán LSIL

1.2 Tế bào vảy không điển hình – không loại trừ HSIL (ASC-H)

Trong số các chẩn đoán ASC có 10% là các tế bào có hình thái nghi ngờ HSIL nhưng không đủ số lượng và chất lượng để chẩn đoán xác định.

Đặc điểm tế bào học: các tế bào thường đứng riêng lẻ hoặc thành nhóm nhỏ dưới 10 tế bào, đôi khi trên phiến đồ thường quy các tế bào có thể tạo thành hình ảnh ‘dòng chảy’ trong các dải chất nhẩy. Các tế bào có kích thước bằng tế bào loạn sản với nhân lớn gấp 1,5 đến 2,5 lần bình thường. 

                                  

Các tế bào ASC-H với nhân méo mó, tỉ lệ nhân/bào tương tăng, màng nhân không đều.

                                   Các tế bào ASC-H với nhân méo mó, tỉ lệ nhân/bào tương tăng, màng nhân không đều.

  1.3 Tổn thương nội biểu mô độ thấp – LSIL

Khoảng 2,5% xét nghiệm tế bào phết lam kính nhuộm PAP có kết quả LSIL với 80-85% nguyên nhân do HPV týp nguy cơ cao và 15% HPV týp nguy cơ thấp. Về diễn biến tự nhiên, LSIL ghi nhận 47% tự thoái triển, 21% tiến triển thành HSIL và 0,15% tiến triền thành ung thư biểu mô tế bào vảy xâm nhập.

Về đặc điểm tế bào học: tiêu chuẩn chẩn đoán LSIL là nhân lớn gấp ≥ 3 lần nhân tế bào trung gian. Có tăng nhẹ tỉ lệ nhân/bào tương. Nhân to nhỏ không đều, có thể có 2 hoặc nhiều nhân trong cùng 1 tế bào; nhân tăng sắc; chất nhiễm sắc phân bố đều, dạng hạt hoặc dạng nhoè đậm không rõ hạt; hạt nhân không rõ; màng nhân đều hoặc có khía lõm. Bào tương có thể bị sừng hoá, bắt màu ái toan. Tế bào bóng do nhiễm HPV cũng được xếp vào LSIL với đặc điểm nhân có kích thước nhỏ hơn và có đầy đủ các đặc điểm như trên với khoảng sáng quanh nhân lớn và có giới hạn rất rõ nhờ viền bào tương ở ngay dưới màng tế bào.

 

a. Các tế bào LSIL có nhân lớn, tăng sắc, màng nhân có khía lõm, tế bào có nhiều nhân

b. Các tế bào LSIL có bào tương sừng hoá bắt màu cam.

 


 

c. Các tế bào có đặc điểm chẩn đoán tế bào bóng của LSIL cần có khoảng sáng quanh nhân rõ, viền sáng đậm, nét  kèm theo sự tăng kích thước và bất thường của nhân.

  1.4 Tổn thương nội biểu mô độ cao - HSIL

Khoảng 0,5% xét nghiệm tế bào phết lam kính nhuộm PAP có kết quả HSIL. 97% HSIL có kết quả xét nghiệm HPV týp nguy cơ cao dương tính. Về mặt mô bệnh học, tổn thương HSIL tương ứng với CIN2 và CIN3. Về tiến triển HSIL ghi nhận có 35% tự thoái triển, 1,4% tiếp tục tiến triển thành Ung thư biểu mô tế bào vảy xâm nhập. 

Về đặc điểm tế bào học: Các tế bào HSIL có kích thước nhỏ hơn, bào tương ít biệt hoá và trưởng thành hơn so với tế bào LSIL; tế bào HSIL có hình dạng giống với tế bào cận đáy, nằm riêng lẻ hoặc liên kết thành đám không gian ba chiều kiểu hợp bào, gọi là “nhóm chen chúc tăng sắc”. Tỉ lệ Nhân/bào tương (> 50%); nhân tăng sắc, thô, màng nhân bất thường, không rõ hạt nhân; nhân có thể có khía hoặc các vết lõm. Bào tương tế bào HSIL kém trưởng thành bắt màu nhạt dạng lưới nhưng cũng có thể có đậm như bào tương tế bào dị sản vảy.

Hình ảnh hợp bào của HSIL biểu hiện các nhóm tế bào đông đúc, không có viền ranh giới giữa các tế bào. Nhân tăng sắc, khác nhau về kích thước, chất nhiễm sắc dạng hạt thô.

Hình ảnh hợp bào của HSIL biểu hiện các nhóm tế bào đông đúc, không có viền ranh giới giữa các tế bào. Nhân tăng sắc, khác nhau về kích thước, chất nhiễm sắc dạng hạt thô.

  1.5 Ung thư biểu mô tế bào vảy xâm nhập

Ung thư biểu mô tế bào vảy là loại thường gặp nhất, chiếm 75 -80% ung thư xâm nhập cổ tử cung, đa số xuất phát từ tổn thương tiền ung thư nằm trong vùng chuyển tiếp, đa phần đã có kết quả xét nghiệm tế bào học là HSIL trước đó. Để dễ cho việc mô tả và báo cáo ung thư biểu mô tế bào vảy được chia thành 2 loại chính là: Ung thư biểu mô tế bào vảy sừng hoá và ung thư biểu mô tế bào vảy không sừng hoá.

+ Ung thư biểu mô vảy sừng hoá: Trên nền tiêu bản chủ yếu gồm các tế bào rời rạc, riêng lẻ. Hình dạng và kích thước của tế bào rất thay đổi, có dạng hình thoi, có dạng giống đuôi nòng nọc. Nhân thường đa dạng, kiềm tính, chất nhiễm sắc dạng hạt thô và phân bố không đều, hạt nhân có thể to nhưng ít gặp hơn so với ung thư biểu mô tế bào vảy không sừng hoá, màng nhân thường không đều, bào tương bắt màu cam đậm. Các tế bào thường phân bố trên nền hoại tử u.

Ung thư biểu mô vảy không sừng hoá với các tế bào đứng riêng lẻ, hoặc kết thành đám dạng hợp bào, nhân lớn, kiềm tính, hạt nhân nổi bật, phân bố trên nền hoại tử u.

Ung thư biểu mô vảy không sừng hoá với các tế bào đứng riêng lẻ, hoặc kết thành đám dạng hợp bào, nhân lớn, kiềm tính, hạt nhân nổi bật, phân bố trên nền hoại tử u.

Ung thư biểu mô vảy sừng hoá xâm nhập: Các tế bào nhân hình thoi, kiềm tính, bào tương bắt màu cam đậm trên nền hoại tử u.

+ Ung thư biểu mô vảy không sừng hoá: Trên nền tiêu bản các tế bào đứng riêng lẻ, hoặc kết thành đám dạng hợp bào. Nhân thường lớn, kiềm tính, sắp xếp lộn xộn không theo cùng hướng, chất nhiễm sắc dạng hạt thô phân bố không đều, hạt nhân to rõ, màng nhân không đều, bào tương hẹp. Các tế bào thường phân bố trên nền hoại tử u.


Ung thư biểu mô vảy không sừng hoá với các tế bào đứng riêng lẻ, hoặc kết thành đám dạng hợp bào, nhân lớn, kiềm tính, hạt nhân nổi bật, phân bố trên nền hoại tử u.

  2. Các bất thường biểu mô tuyến

2.1 Tế bào tuyến không điển hình (AGC)

Thuật ngữ AGC để chỉ các biến đổi hình thái của tế bào tuyến, từ không điển hình lành tính tới nghi ngờ ác tính, AGC được chia thành 2 mức độ : là AGC không đặc biệt hoặc AGC hướng tới u. Tuy nhiên khi không thể xác định, thuật ngữ AGC được sử dụng chung.

Tế bào tuyến cổ trong không điển hình, không đặc biệt (NOS)

Đặc điểm tế bào học: Các tế bào thường đứng thành mảng, dải, với nhân chồng chất hoặc giả tầng, kích thước tăng 3-5 lần nhân của tế bào cổ trong bình thường, nhân thường tăng sắc nhẹ, chất nhiễm sắc không đều, có hạt nhân, tỉ lệ nhân/bào tương tăng nhẹ.

                   

Tế bào tuyến cổ trong không điển hình, hướng đến u

Đặc điểm tế bào học: có đặc điểm giống tế bào tuyến cổ trong NOS nhưng với tình trạng không điển hình nặng hơn, cộng thêm một vài hình ảnh đặc trưng như “lông chim” và “hoa hồng”. Tế bào thường kết thành dải tế bào giả tầng hoặc không gian 3 chiều với nhân chen chúc chồng chất, nhân hình bầu dục kéo dài, tăng sắc, chất nhiễm sắc thô và phân bố không đều, đôi khi có hình ảnh nhân chia, tỉ lệ nhân/bào tương tăng.


Các tế bào tuyến cổ trong không điển hình, hướng đến u: Các tế bào kết thành dải giả tầng, nhân lớn, bầu dục kéo dài, chồng chất lên nhau, chất nhiễm sắc thô, tạo hình ảnh ‘hoa hồng’ hoặc gợi ý hình ảnh ‘ lông chim’.

Tế bào tuyến nội mạc không điển hình 

Sự phân biệt tế bào tuyến nội mạc không điển hình và tế bào nội mạc bình thường chủ yếu dựa trên sự tăng kích thước của nhân. Trong Bethesda, tế bào tuyến nội mạc không điển hình chỉ có 1 loại thay vì 2 loại như tuyến cổ trong không điển hình, đó là tế bào tuyến nội mạc không điển hình hướng tới u.

Đặc điểm tế bào: Tế bào kết thành đám nhỏ, mỗi đám có từ 5-10 tế bào, nhân hơi to so với nhân tế bào nội mạc bình thường, tăng sắc nhẹ, chất nhiễm sắc phân bố không đều, có hạt nhân, bào tương có không bào.


Tế bào tuyến  nội mạc không điển hình với nhân hơi to so với nhân tế bào nội mạc bình thường, tăng sắc nhẹ, chất nhiễm sắc phân bố không đều, có hạt nhân, bào tương có không bào.

2.2     Ung thư biểu mô tuyến tại chỗ cổ trong cổ tử cung

Ung thư biểu mô tuyến tại chỗ cổ trong cổ tử cung là tổn thương tiền ung thư thường gặp ở phụ nữ trung bình 35 tuổi. Tiến triển thành ung thư biểu mô tuyến cổ trong xâm nhập khoảng sau 10-15 năm.

Đặc điểm tế bào học: Tế bào ít khi đứng riêng lẻ, thường kết thành các đám 3 chiều gọi là “nhóm chen chúc tăng sắc’, các tế bào ở ngoại vi đám có nhân xếp song song giống hàng rào, nhân và một phần bào tương chìa ra ngoài tạo hình ảnh ‘lông chim’, bên trong các tế bào thường chen chúc, chồng chất lên nhau làm mất hình ảnh tổ ong, có thể tạo thành cấu trúc dạng lòng tuyến giống hình ‘hoa hồng’. 

Tế bào có hình trụ, nhân to nhỏ không đều, kích thước gấp đôi tế bào trung gian, nhân hình bầu dục hoặc kéo dài, tăng sắc với chất nhiễm sắc dạng hạt thô phân bố đều, hạt nhân thường nhỏ hoặc không thấy rõ, thể tích bào tương giảm, tỉ lệ nhân/bào tương tăng so với tế bào cổ trong bình thường, thường có hình ảnh nhân chia đi kèm trên nền tiêu bản khá sạch.


Ung thư biểu mô tuyến cổ trong tại chỗ: Tế bào kết thành ‘nhóm chen chúc tăng sắc’ với các tế bào ở ngoại vi chìa nhân và bào tương ra ngoài gợi hình ảnh “lông chim”.

 2.3  Ung thư biểu mô tuyến xâm nhập

Ung thư biểu mô tuyến cổ trong cổ tử cung

Đặc điểm tế bào học: Là đặc điểm tế bào học của ung thư biểu mô tuyến tại chỗ cộng thêm đặc điểm của sự xâm nhập, tức là nền hoại tử u. Tế bào đứng riêng lẻ hoặc kết thành đám 3 chiều gọi là ‘nhóm chen chúc tăng sắc’, cũng có hình ảnh ‘lông chim’, ‘hoa hồng’ và các dải tế bào giả tầng. Tế bào có hình trụ hoặc bầu dục kéo dài hoặc đa dạng, kích thước gấp 2-3 lần nhân của tế bào trung gian, nhân tăng sắc với chất nhiễm sắc dạng hạt thô phân bố không đều, hạt nhân to, màng nhân không đều, bào tương có hốc, thường có hình ảnh nhân chia. Tiêu bản thường có nền hoại tử u, có thể kèm theo sự bất thường của các tế bào vảy.


Ung thư biểu mô tuyến cổ trong xâm nhập: Tế bào đứng riêng lẻ hoặc kết thành đám 3 chiều gọi là ‘nhóm chen chúc tăng sắc’, cũng có hình ảnh ‘lông chim’, ‘hoa hồng’ và các dải tế bào giả tầng với tế bào hình trụ nhân lớn, kiềm tính, hạt nhân rõ, có nhân chia, trên nền tiêu bản hoại tử hoặc máu.

Ung thư biểu mô tuyến nội mạc cổ tử cung

Ung thư biểu mô tuyến nội mạc thường xảy ra sau tuổi mãn kinh từ 55-65 tuổi, gồm nhiều loại khác nhau trong đó có ung thư dạng nội mạc là loại hay gặp nhất, chiếm 80%, có tới 20-50% bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến nội mạc có thể được phát hiện trên tế bào cổ tử cung trước đó.

Đặc điểm tế bào học: Trên tiêu bản thường nghèo tế bào, tế bào u đứng riêng lẻ hoặc kết thành đám nhỏ chen chúc 3 chiều. Tế bào hình tròn giống tế bào nội mạc nhưng kích thước tăng, nhân thường lớn, tròn, tăng sắc, chất nhiễm sắc phân bố không đều, hạt nhân rõ, kích thước và tình trạng không điển hình của nhân tăng theo độ mô học của u. Bào tương thường hẹp, bắt màu xanh, thường có không bào, có thể chứa bạch cầu đa nhân, tạo thành hình ảnh ‘ túi bạch cầu’ trên nền hoại tử u.


Ung thư biểu mô tuyến nội mạc xâm nhập: tế bào u đứng riêng lẻ hoặc kết thành đám nhỏ chen chúc 3 chiều. Tế bào hình tròn giống tế bào nội mạc nhưng kích thước tăng, nhân thường lớn, tròn, tăng sắc, hạt nhân rõ, trên nền hoại tử u dạng hạt mịn.

Ung thư biểu mô tuyến ngoài tử cung

Các tế bào của ung thư biểu mô tuyến ngoài tử cung có thể do ung thư xâm nhập trực tiếp từ một khối u nguyên phát của cơ quan lân cận (Ung thư biểu mô tuyến của trực tràng); tế bào ung thư di căn đến cổ tử cung theo đường máu hoặc bạch huyết (Ung thư biểu mô tuyến vú); tế bào ung thư đi qua vòi trứng và buồng tử cung (Ung thư biểu mô thanh dịch buồng trứng)

Đặc điểm tế bào: Tế bào u và cấu trúc của chúng tạo ra có đặc điểm tương ứng với khối u nguyên phát. Vậy nên luôn cần những thông tin về bệnh sử, tiền sử của nguồi bệnh từ các nhà lâm sàng.

Như vậy, xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung là một xét nghiệm tuy đơn giản nhưng mang lại rất nhiều ý nghĩa trong việc tầm soát ung thư cổ tử cung, bởi xét nghiệm có thể phát hiện được rất nhiều các tổn thương tiền ung thư cũng như ung thư cổ tử cung thật sự. Điều quan trọng của việc làm xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung trong việc tầm soát ung thư cổ tử cung là bạn nên lựa chọn cơ sở y tế uy tín để thăm khám bởi độ chính xác của xét nghiệm phụ thuộc rất nhiều vào việc cơ sở y tế đó có uy tín hay không. 

Hiện nay Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC là một trong những cơ sở y tế uy tín với những gói dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng, đặc biệt là các gói tầm soát ung thư. Trang thiết bị hiện đại cùng với đội ngũ bác sĩ nhiều kinh nghiệm, chuyên môn cao là những ưu điểm vượt trội của MEDLATEC. 

Năng lực xét nghiệm của MEDLATEC còn được khẳng định bởi những chứng chỉ danh giá mà bệnh viện đã đạt được, đó là chứng chỉ ISO 15189:2012 của Bộ Khoa học Công nghệ và Chứng chỉ CAP được cấp bởi hội Bệnh học Hoa Kỳ. 

Để được tư vấn thêm và đặt lịch khám sớm, vui lòng liên hệ đến tổng đài 1900 56 56 56.

Bình luận ()

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt trước khi đăng.

Lựa chọn dịch vụ

Quý khách hàng vui lòng lựa chọn dịch vụ y tế theo nhu cầu!

Lấy mẫu xét nghiệm tại nhà

Lấy mẫu xét nghiệm tại nhà giúp khách hàng chủ động tầm soát bệnh lý. Đồng thời tiết kiệm thời gian đi lại, chờ đợi kết quả với mức chi phí hợp lý.

Đặt lịch thăm khám tại MEDLATEC

Đặt lịch khám tại cơ sở khám chữa bệnh thuộc Hệ thống Y tế MEDLATEC giúp chủ động thời gian, hạn chế tiếp xúc đông người.