Chẩn đoán nhiễm virus Epstein-Barr (EBV) - bệnh của nụ hôn | Medlatec

Chẩn đoán nhiễm virus Epstein-Barr (EBV) - bệnh của nụ hôn

Ngày 19/09/2014 PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật - Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC

Virus Epstein-Barr (EBV) hay còn gọi là herpesvirus 4 ở người (human herpesvirus 4) là loại gamma virus, phổ biến đến mức khoảng 90% người trưởng thành trên thế giới đã từng bị nhiễm và có kháng thể chống lại loại virus này [7]. Bộ gen của HBV gồm 2 chuỗi DNA, có độ dài sấp xỉ 172 kilobase (kb).


Bệnh do EBV lây nhiễm qua đường nước bọt nên còn được gọi là bệnh của nụ hôn (the kissing disease).  Nhiễm virus cấp ở trẻ em thường không biểu hiện triệu chứng, còn ở thiếu niên và người trưởng thành có khoảng 30-50% thể hiện bệnh bạch cầu đơn nhân (mononucleosis) [9]. Tuy nhiên, ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, EBV có liên quan đến các rối loạn sinh lympho và một số ung thư như Burkitt's lymphoma, Hodgkin's lymphoma, ung thư mũi họng hoặc bệnh đa xơ cứng. 

Các xét nghiệm về kháng thể virus Epstein-Barr được sử dụng để giúp chẩn đoán phân biệt một người chưa tiếp xúc và dễ bị nhiễm EBV với một người mới bị nhiễm, một người đã từng bị nhiễm EBV hoặc một người bị nhiễm EBV mạn tái phát.
 

xét nghiệm kháng thể EBV một loại virus lây qua đường hôn

Các xét nghiệm miễn diễn dịch được sử dụng để phát hiện và đánh giá nhiễm EBV gồm:

- Kháng thể kháng kháng nguyên vỏ IgM của virus (viral capsid antigen IgM: VCA-IgM): VCA IgM xuất hiện sớm trong giai đoạn cấp của nhiễm EBV và thường biến mất trong vòng 4 đến 6 tuần [5, 8], cũng có thể dai dẳng trong vài tháng [3].
-Kháng thể kháng kháng nguyên vỏ IgG của virus (viral capsid antigen: VCA-IgG): VCA IgG cũng xuất hiện trong giai đoạn cấp của nhiễm EBV, cùng thời gian với việc xuất hiên VCA IgM, đạt mức cao nhất ở 2 đến 4 tuần sau khi khởi phát, giảm dần và sau đó tồn tại suốt đời [3].

- Kháng thể kháng kháng nguyên D sớm (D early antigen IgG: EA-D IgG): mặc dù không thường xuyên có mặt nhưng EA-D IgG có thể tăng trong 3-4 tuần đầu và thường biến mất sau 3-4 tháng [1]. Ở nhiều người, việc phát hiện kháng thể kháng EA-D IgG là một dấu hiệu của nhiễm EBV hoạt động. Tuy nhiên, có khoảng 20% số người khỏe mạnh có thể tồn tại kháng thể kháng EA-D IgG trong nhiều năm.
- Kháng thể kháng kháng nguyên nhân 1 của Epstein Barr (Epstein Barr nuclear antigen-1 IgG: EBNA-1 IgG): EBNA-1 IgG, được xác định bởi kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang, không xuất hiện trong 3-4 tuần đầu ở giai đoạn cấp của nhiễm EBV nhưng xuất hiện dần dần trong khoảng từ 2 đến 4 tháng sau khi khởi phát triệu chứng nên được xem là một chỉ dẫn của nhiễm EBV đã qua. Ở phần lớn bệnh nhân nhiễm EBV mạn và suy giảm miễn dịch, EBNA-1 IgG thường là (-) tính hoặc có mức độ rất thấp [6].

- Xác định tải lượng EBV DNA.
 

1.  Chỉ định các xét nghiệm kháng thể EBV:

Các kháng thể EBV trong huyết tương có thể được chỉ định trong các trường hợp sau:
- Khi bệnh nhân có các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh bạch cầu đơn nhân như: mệt mỏi, cảm giác khó chịu, viêm họng, sốt, sưng hạch bạch huyết ở cổ và nách, sưng amidan, đau đầu, nổi mẩn, lách to, ...

- Khi người thầy thuốc muốn xác định bệnh nhân đã từng tiếp xúc trước với EBV hay chưa?

- Khi một thai phụ có các triệu chứng giống như cúm và người thầy thuốc muốn xác định xem các triệu chứng có phải là do EBV hay do vi sinh vật khác như Toxoplasma goldii, CMV, Rubella, Herpes Simplex, …

- Các xét nghiệm này đôi khi có thể được lặp lại khi người thầy thuốc muốn theo dõi sự thay đổi mức độ kháng thể khi xét nghiệm đầu tiên (-) tính, nhưng vẫn còn nghi ngờ về nhiễm EBV.

2. Ý nghĩa lâm sàng của các xét nghiệm kháng thể EBV:

Sự biện luận các kết quả xét nghiệm miễn dịch VCA-IgM (-) tính và VCA-IgG cần phải được đánh giá một cách cẩn thận cùng với triệu chứng lâm sàng và bệnh sử của bệnh nhân:

- Nếu VCA-IgM (-) tính và VCA-IgG (-) tính: chưa bị nhiễm nhưng dễ bị nhiễm EBV.

- Nếu VCA-IgM (+) tính và VCA-IgG (+) tính: bị nhiễm EBV cấp.

- Nếu VCA-IgM (-) tính và VCA-IgG (+) tính: đã từng bị nhiễm EBV.

- Nếu VCA-IgM (-) tính và VCA-IgG (+) tính tăng mạnh: nhiễm EBV mạn tái phát.

Để có thể hiểu biết sâu sắc hơn về nhiễm EBV, có thể sử dụng thêm 2 xét nghiệm khác, đó là: kháng thể kháng kháng nguyên D sớm (EA-D IgG) và thể kháng kháng nguyên nhân 1 của Epstein Barr (EBNA-1 IgG).      

- Nếu VCA-IgG (+) tính và EA-D IgG (+) tính: bệnh nhân bị nhiễm EBV cấp.

- Nếu VCA-IgM (-) tính nhưng VCA-IgG (+) tính và kháng thể EBNA-1 IgG cũng (+) tính: bệnh nhân đã bị nhiễm EBV trước đây.

- Nếu mức độ VCA-IgG tăng dần: bệnh nhân bị nhiễm EBV thể hoạt động, còn khi nồng độ giảm dần: bệnh nhân nhiễm EBV gần đây đang được ổn định. Tuy nhiên, mức độ kháng thể EBV không tương quan với mức độ nghiêm trọng của nhiễm EBV hoặc với thời gian kéo dài của bệnh. Mức độ cao của VCA-IgG có thể có mặt và có thể tồn tại suốt đời (Bảng 1).

    Bảng 1. Ý nghĩa lâm sàng của các xét nghiệm miễn dịch của virus Epstein-Barr ở bệnh nhân [2]

TT

VCA IgM

VCA IgG

EA-D, IgG

EBNA, IgG

Ý nghĩa lâm sàng
 

  1

         -

         -

            -

          -

Chưa bị nhiễm, dễ bị nhiễm EBV
 

  2

        +

        +

            -

          -

Nhiễm EBV nguyên phát, giai đoạn sớm
 

  3

       -/+

        +

           +

          -

Nhiễm EBV cấp
 

  4

        -

        +

            -

          +

Đã từng bị nhiễm EBV
 

  5

        -

        +

           +

          +

Nhiễm EBV mạn tái phát

 

Một số điểm cần chú ý: 
Việc xác định EBV DNA bằng kỹ thuật sinh học phân tử có có thể giúp chẩn đoán và theo dõi các bệnh nhân có nguy cơ phát triển các rối loạn sinh lympho liên quan đến EBV [4].

Ngoài các xét nghiệm miễn dịch đặc hiệu của EBV nêu trên, để chẩn đoán nhiễm EBV cần xét nghiệm tổng phân tích máu để xem có sự tăng về số lượng bạch cầu (lymphocyte) hay không?

Xét nghiệm kháng thể VCA có thể (+) tính giả do phản ứng chéo với các virus herpes khác như CMV hoặc với các vi sinh vật khác như Toxoplasma gondii.

Xét nghiệm kháng thể VCA có thể (-) tính giả trong giai đoạn sớm của nhiễm EBV hoặc ở trẻ dưới 2 tuổi nhiễm EBV.

Biến chứng thường gặp nhất của nhiễm EBV là vỡ lách. Các biến chứng khác của nhiễm EBV có thể là khó thở do sưng họng, vàng da, phát ban, viêm tụy, co giật, và / hoặc viêm não. Ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, EBV có thể liên quan đến một số dạng ung thư hiếm gặp như u lympho Burkitt, Hodgkin lymphoma, ung thư biểu mô mũi họng hoặc bệnh đa xơ cứng.

Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu chống EBV. Việc điều trị nhễm EBV hiện nay chủ yếu là nghỉ ngơi, uống nhiều nước và điều trị các triệu chứng. Tránh bất kỳ môn thể thao hoặc lao động nặng nào có thể gây vỡ lách.

Hiện cũng chưa có vaccine để phòng nhiễm EBV. Vấn đề phòng EBV chủ yếu là tránh tiếp xúc với nước bọt của người bị nhiễm EBV.
 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
 

1. Bauer G. Simplicity through complexity: immunoblot with recombinant antigens as the new gold standard in Epstein-Barr virus serology. Clin Lab 2001; 47: 223-230.

2. De Paschale M, and Clerici P. Serological diagnosis of Epstein-Barr virus infection: Problems and solutions. World J Virol 2012; 1(1): 31-43.  

3. Evans AS, Niederman JC, Cenabre LC, West B, Richards VA. A prospective evaluation of heterophile and Epstein-Barr virus-specific IgM antibody tests in clinical and subclinical infectious mononucleosis: Specificity and sensitivity of the tests and persistence of antibody. J Infect Dis 1975; 132: 546-554.

4. Holmes RD, Sokol RJ. Epstein-Barr virus and post-transplant lymphoproliferative disease. Pediatr Transplant 2002; 6: 456-464.

5. Lamy ME, Favart AM, Cornu C, Mendez M, Segas M, Burtonboy G. Study of Epstein Barr virus (EBV) antibodies: IgG and IgM anti-VCA, IgG anti-EA and Ig anti-EBNA obtained with an original microtiter technique: serological criterions of primary and recurrent EBV infections and follow-up of infectious mononucleosis seroepidemiology of EBV in Belgium based on 5178 sera from patients. Acta Clin Belg 1982; 37: 281-298. 

6. Miller G, Grogan E, Rowe D, Rooney C, Heston L, Eastman R, Andiman W, Niederman J, Lenoir G, Henle W, et al. Selective lack of antibody to a component of EB nuclear antigen in patients with chronic active Epstein-Barr virus infection. J Infect Dis 1987; 156: 26-35.

7. Rickinson AB, Kieff E. Epstein-Barr virus. In: Knipe DM, Howley PM, Griffin DE, Martin MA, Lamb RA, et al., editors. Fields virology. Philadelphia: Lippincott Williams and Wilkins; 2001: 2575-2627.

8. Schillinger M, Kampmann M, Henninger K, Murray G, Hanselmann I, Bauer G. Variability of humoral immune response to acute Epstein-Barr virus (EBV) infection: evaluation of the significance of serological markers. Med Microbiol Lett 1993; 2: 296-303.

9. Steven NM. Infectious mononucleosis. EBV Reports 1996; 3: 91-95.

Đăng ký khám, tư vấn

Tại sao nên chọn bệnh viện đa khoa MEDLATEC

Bệnh viện đa khoa với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực y tế.
Thăm khám bởi đội ngũ giáo sư, bác sĩ đầu ngành
Cơ sở vật chất, máy móc trang thiết bị hiện đại
Áp dụng thanh toán bảo hiểm y tế và các bảo hiểm khác lên tới 100%
Quy trình khám chữa bệnh nhanh chóng, thuận tiện
Chi phí khám chữa bệnh hợp lý.

Tin cùng chuyên mục

Khám sức khỏe đăng ký kết hôn có cần thiết hay không?

Khám sức khỏe đăng ký kết hôn có cần thiết hay không?

Kết hôn và việc trọng đại của đời người cũng như của cả gia đình và dòng họ. Trước khi kết hôn, chúng ta phải chuẩn bị nhiều thủ tục để tiến hành đăng ký kết hôn. Vậy, có cần khám sức khỏe đăng ký kết hôn không? Khi đi khám như vậy cần khám những nội dung nào? Hãy cùng MEDLATEC tìm hiểu về vấn đề này nhé!
Ngày 17/08/2019
Khám sức khỏe du học Úc cần biết những điều gì?

Khám sức khỏe du học Úc cần biết những điều gì?

Khám sức khỏe không chỉ để hoàn tất thủ tục xin visa du học Úc mà còn biết được tình hình hiện tại của bản thân để kịp thời có những biện pháp cải thiện. Tuy nhiên, nhiều bạn còn chưa nắm rõ về khám sức khỏe du học Úc như thế nào. Chúng ta cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Ngày 17/08/2019
Khám sức khỏe sinh sản nam và những điều cần biết

Khám sức khỏe sinh sản nam và những điều cần biết

Xã hội ngày càng hiện đại, tỷ lệ người mắc các bệnh nói chung và bệnh nam khoa nói riêng cũng ngày càng tăng cao. Chính vì thế, việc khám sức khỏe sinh sản nam là điều cần thiết giúp các đấng mày râu nắm bắt được tình trạng cơ thể, từ đó có những biện pháp chăm sóc sức khỏe tốt hơn.
Ngày 16/08/2019
Khám sức khỏe công an như thế nào? - 4 điều bạn nên biết

Khám sức khỏe công an như thế nào? - 4 điều bạn nên biết

Bất kỳ ai muốn đi nghĩa vụ công an hay xét tuyển để dự thi vào các trường Công an nhân dân đều phải thực hiện khám sức khỏe. Đây là quy định bắt buộc được Nhà nước ban hành. Chúng ta cùng tìm hiểu về quy trình khám sức khỏe công an như thế nào qua bài viết sau.
Ngày 16/08/2019
hotline 1900 5656561900 565656