Viêm phổi do Pneumocystis carinii | Medlatec

Viêm phổi do Pneumocystis carinii

Ngày 05/06/2020 CN Nguyễn Thị Huế - Trung tâm Xét nghiệm

Pneumocystis carinii được coi là một loại nấm. Pneumocystis carinii có thể gây bệnh ở nhiều cơ quan (phổi, gan, thận, khoang bụng, màng não, xương, tai giữa,…) nhưng chủ yếu gây bệnh ở phổi và tại các vị trí lan tỏa khác.


26/05/2020 | Sán lá phổi - căn nguyên gây viêm phổi mạn tính
24/05/2020 | Legionella pneumophila - Tác nhân gây viêm phổi cộng đồng
20/04/2020 | Nguyên nhân, triệu chứng và cách phòng trị bệnh viêm phổi ở trẻ em
18/02/2020 | Cách thức nhận diện bệnh Cúm mùa, tránh nhầm lẫn với dịch viêm phổi cấp

1. Đặc điểm của Pneumocystis carinii

Pneumocystis carinii hay còn gọi là Pneumocystis jirovecii là một loại nấm giống như nấm men không điển hình thuộc chi Pneumocystis,  trước đây là protozoan.

Pneumocystis carinii tồn tại bên trong vật chủ ở hai dạng: trophic và u nang. Các dạng trophic của P. carinii có thể sinh sản vô tính thông qua phân hạch nhị phân trong khi các nang có thể sinh sản hữu tính sau khi kết hợp trophozoites.

Vòng đời của Pneumocystis carinii

Vòng đời của Pneumocystis carinii

Trong chu trình phát triển P. carinii có 3 hình thể khác nhau:

- Thể bào nang: bên trong chứa 8 nhân con, sau này sẽ phát triển thành thể hoạt động, đường kính 3 - 5 µm.

- Thể tiền bào nang : hình quả trứng, vách dày, nhẫn, kích thước khoảng 5 µm.

- Thể hoạt động : tế bào chất màu xanh, nhân màu tím khi nhuộm Giemsa, kích thước 1 - 2 µm.

2. Khả năng gây bệnh của Pneumocystis carinii

P. carinii lây lan từ người sang người qua không khí. Một số người trưởng thành khỏe mạnh có thể mang nấm Pneumocystis trong phổi mà không có triệu chứng và nó có thể lây sang người khác, kể cả những người có hệ miễn dịch yếu.

Nhiều người tiếp xúc với Pneumocystis khi còn nhỏ, nhưng có thể không bị bệnh vì hệ thống miễn dịch của họ ngăn chặn được nấm gây nhiễm trùng.

Hình ảnh P. carinii xâm nhập vào phế nang

Hình ảnh P. carinii xâm nhập vào phế nang

Trên thực tế, có tới 20% người trưởng thành có thể mang loại nấm này bất cứ lúc nào và hệ thống miễn dịch sẽ loại bỏ nấm sau vài tháng. 

Hầu hết những người mắc bệnh do P. carinii (PCP) đều có tình trạng suy giảm miễn dịch, có nghĩa là cơ thể họ không chống lại nhiễm trùng tốt. Khoảng 40% những người mắc bệnh bị nhiễm HIV/ AIDS, 60% người khác mắc bệnh thường dùng thuốc làm giảm khả năng chống lại vi sinh vật hoặc có các tình trạng y tế khác, chẳng hạn như:

- Nhiễm HIV.

+ Số lượng CD4 : thường <200/ L.

+ Tuân thủ kém với điều trị dự phòng PCP.

- Tiền sử nhiễm trùng PCP.

- Rối loạn suy giảm miễn dịch nguyên phát.

+ Rối loạn suy giảm miễn dịch kết hợp nghiêm trọng (Hội chứng tăng IgM).

+ Bệnh ác tính (ví dụ như bệnh bạch cầu, ung thư hạch không Hodgkin).

- Điều trị ức chế miễn dịch (corticoid mãn tính) được chỉ định trong:

+ Ghép tế bào gốc hoặc ghép tạng.

+ Rối loạn mô liên kết (lupus ban đỏ hệ thống).

+ Vasculitides (viêm đa giác mạc).

- Suy dinh dưỡng.

Pneumocystis carinii gây tổn thương phổi đáng kể và trao đổi khí bị suy yếu, dẫn đến thiếu oxy và có thể bị suy hô hấp.

3. Chẩn đoán viêm phổi do Pneumocystis carinii

Việc chẩn đoán bệnh bệnh viêm phổi do nhiễm trùng bào tử Pneumocystis carinii thường dựa vào triệu chứng của bệnh nhân và các kỹ thuật xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh. Các bệnh nhân có biểu hiện viêm phổi, đặc biệt là người nhiễm HIV/AIDS hay sử dụng corticoid kéo dài.

Kèm theo các triệu chứng:

+ Sốt.

+ Ho.

+ Khó thở.

+ Đau ngực.

+ Ớn lạnh.

+ Mệt mỏi.

- Cận lâm sàng: 

+ Chụp phim X-quang phổi cho thấy hình ảnh những hạt mịn ở hai bên lá phổi, đáy phổi bị khí thũng. Sau đó dần dần xuất hiện hình ảnh lưới rồi mờ đục.

Chụp X-quang bệnh nhân viêm phổi (PCP)

Chụp X-quang bệnh nhân viêm phổi (PCP)

+ Xét nghiệm: 

Bệnh phẩm thường lấy để làm tiêu bản là đờm, nước rửa phế quản - phế nang hoặc sinh thiết phổi.

Phương pháp chẩn đoán:

+ Nhuộm soi: như giemsa, Diff-Quick, xanh Toluidine hoặc bạc methenamine cho phép nhận dạng hình ảnh nấm P. carinii giúp định hướng chẩn đoán.

Hình ảnh P. carinii

Hình ảnh P. carinii

+ Tế bào học: xử lý nhuộm soi mẫu bệnh phẩm sinh thiết phổi. Quan sát trên kính hiển vi thấy hình ảnh P. carinii xâm nhập vào các nang phổi.

+ Miễn dịch huỳnh quang: phát hiện kháng nguyên/ kháng thể trong mẫu huyết thanh của bệnh nhân. Xét nghiệm này giúp hỗ trợ chẩn đoán bệnh viêm phổi do P.neumocystis.

+ Nuôi cấy: P.neumocystis  rất khó nuôi cấy nên rất ít khi sử dụng để chẩn đoán.

+ Sinh học phân tử: Phản ứng chuỗi polymerase (PCR) được sử dụng để phát hiện DNA Pneumocystis trong các loại mẫu khác nhau với độ nhạy và độ đặc hiệu tương đối cao nên rất có giá trị chẩn đoán.

4. Cách phòng ngừa và điều trị Pneumocystis carinii

- Biện pháp phòng ngừa:

Không có vắc-xin để ngăn ngừa viêm phổi do P. carinii (PCP). 

Có thể sử dụng thuốc để ngăn ngừa PCP cho những người có nguy cơ cao: người nhiễm HIV, bệnh nhân ghép tế bào gốc và một số bệnh nhân ghép tạng rắn, người đang sử dụng corticosteroid liều cao, dài hạn. Thuốc thường được sử dụng để điều trị dự phòng PCP là trimethoprim/ sulfamethoxazole (TMP/ SMX).

- Điều trị:

PCP cần được điều trị đúng theo chỉ định của bác sĩ. Nếu không điều trị, PCP có thể gây tử vong. 

+ Thuốc điều trị phổ biến nhất là trimethoprim/ sulfamethoxazole (TMP/ SMX), còn được gọi là co-trimoxazole. Thuốc này được dùng bằng đường uống hoặc truyền qua tĩnh mạch trong 3 tuần.

+ Pentamidine: Để điều trị PCP, pentamidine được truyền qua tĩnh mạch hàng ngày trong ba tuần. Đây là lựa chọn thứ hai để điều trị PCP nặng nếu TMP/ SMX không thể sử dụng được.

+ Clindamycin-primaquine: Hai loại thuốc này thường được dùng bằng đường uống trong ba tuần. Nó có hiệu quả để điều trị các trường hợp PCP nhẹ đến trung bình. Đối với những trường hợp nặng, clindamycin có thể được truyền qua tĩnh mạch.

+ Trimethoprim (TMP) - dapsone: Cả hai loại thuốc này đều được uống trong ba tuần. TMP-dapsone dường như có hiệu quả tương đương với TMP/ SMX để điều trị PCP từ nhẹ đến trung bình với ít tác dụng phụ hơn. Tuy nhiên, TMP-dapsone có số lượng thuốc hàng ngày cao hơn.

+ Atovaquone: Chất lỏng này được uống hai lần một ngày với thức ăn trong ba tuần. Nó ít hiệu quả hơn TMX/ SMX đối với PCP từ nhẹ đến trung bình nhưng có ít tác dụng phụ hơn.

+ Pentamidine khí dung (NebuPent): Điều trị này không còn được khuyến nghị do hiệu quả thấp hơn, khó sử dụng và tỷ lệ trở lại của PCP sau khi kết thúc điều trị.

Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC đang đẩy mạnh phát triển chất lượng dịch vụ với độ ngũ chuyên gia nhiều năm kinh nghiệm, phát triển hầu hết các chuyên khoa, đặc biệt là xét nghiệm.

Khi bạn có yếu tố nguy cơ nghi ngờ viêm phổi hãy đến ngay các cơ sở của MEDLATEC để thăm khám và chẩn đoán. Vấn đề sức khỏe của bạn sẽ được giải quyết và bạn sẽ hài lòng với dịch vụ của chúng tôi. 

Đăng ký khám, tư vấn

Tại sao nên chọn bệnh viện đa khoa MEDLATEC

Bệnh viện đa khoa nhiều năm kinh nghiệm.
Đội ngũ giáo sư, bác sĩ đầu ngành
Đội ngũ giáo sư, bác sĩ đầu ngành
Cơ sở vật chất hiện đại
Áp dụng thanh toán bảo hiểm y tế lên tới 100%
Quy trình khám chữa bệnh nhanh chóng
Chi phí khám chữa bệnh hợp lý.

Tin cùng chuyên mục

Bệnh giang mai và những điều cần biết

Bệnh giang mai và những điều cần biết

Một trong những bệnh xã hội khá phổ biến hiện nay là giang mai, lây qua đường tình dục hoặc có thể lấy trực tiếp từ mẹ sang con. Bệnh hoàn toàn có thể phòng ngừa cũng như điều trị được nếu như được phát hiện sớm cũng như nâng cao hiểu biết, ý thức của mọi người. 
Ngày 27/06/2020
Tầm quan trọng của xét nghiệm huyết đồ trong theo dõi sức khỏe

Tầm quan trọng của xét nghiệm huyết đồ trong theo dõi sức khỏe

Nếu như tổng phân tích tế bào máu là xét nghiệm cơ bản, thường quy trong các xét nghiệm huyết học, cung cấp các thông số cơ bản về các dòng tế bào máu thì huyết đồ là bản mô tả đầy đủ, cụ thể hơn về các thông số đó, giúp bác sĩ có định hướng đúng trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý về máu. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp chi tiết các thông tin cần biết về xét nghiệm huyết đồ, chúng ta cùng tìm hiểu nhé.
Ngày 27/06/2020
Giá trị của xét nghiệm IgE đặc hiệu dị nguyên trong chẩn đoán bệnh dị ứng

Giá trị của xét nghiệm IgE đặc hiệu dị nguyên trong chẩn đoán bệnh dị ứng

Giá trị của xét nghiệm IgE đặc hiệu dị nguyên (sIgE) trong chẩn đoán bệnh dị ứng và dự đoán đáp ứng trị liệu miễn dịch dị nguyên
Ngày 23/06/2020
Cấy dịch bằng máy cấy tự động

Cấy dịch bằng máy cấy tự động

Dịch mủ kín bao gồm dịch não tủy, dịch màng tim, dịch màng bụng,… được tạo ra tại những vị trí rất quan trọng trong cơ thể. Khi có tình trạng viêm nhiễm xảy ra mà không xác định căn nguyên gây bệnh và điều trị kịp thời thì diễn biến hết sức nguy hiểm và có thể dẫn đến tử vong. Cấy dịch bằng máy cấy tự động là phương pháp nuôi cấy tối ưu cho kết quả nhanh chóng và chính xác đáp ứng được với các loại dịch trong khoang kín và cả máu.
Ngày 20/06/2020
hotline 1900 5656561900 565656