Vai trò của IgG trong hệ thống miễn dịch | Medlatec

Vai trò của IgG trong hệ thống miễn dịch

Ngày 01/05/2020 KTV. Vũ Thị Nga - Trung tâm xét nghiệm

Là một trong 5 loại globulin miễn dịch được cơ thể tạo ra để bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân gây bệnh lây nhiễm từ bên ngoài vào bên trong cơ thể, Immunoglobulin G là loại kháng thể có tỉ lệ cao nhất được tìm thấy trong máu và dịch ngoại bào, cho phép nó kiểm soát nhiễm trùng các mô cơ thể . Bằng cách liên kết nhiều loại mầm bệnh như virus, vi khuẩn và nấm, IgG bảo vệ cơ thể khỏi bị nhiễm trùng.


25/03/2020 | Ý nghĩa lâm sàng của các globulin miễn dịch IgG, IgM và IgA
07/08/2017 | Giá trị của các xét nghiệm Real-time RT-PCR, kháng nguyên NS1, kháng thể IgM và IgG trong chẩn đoán sớm nhiễm virus sốt Dengue
04/09/2016 | IgG định lượng (quantitative immunoglobulin G)
19/04/2012 | Các kháng thể kháng cardiolipin (anti-cardiolipin antibodies) IgM và IgG

1. IgG là gì?

Hình 1: Cấu trúc 5 loại Immunoglobulin

Immunoglobulin G (IgG) hay còn được gọi là globulin G là một trong những protein có nhiều nhất trong huyết thanh người, chiếm khoảng 10 - 20% protein huyết tương. Đây là lớp chính trong năm loại immunoglobulin ở người, IgM, IgD, IgG, IgA và IgE. Các glycoprotein liên quan chặt chẽ này, khác nhau về cấu trúc chuỗi nặng và có chức năng hiệu ứng khác nhau. Immunoglobulin G có thể được chia thành bốn lớp con, được đặt tên, theo thứ tự giảm dần sự phong phú IgG1, IgG2, IgG3 và IgG4. 

Immunoglobulin G kháng thể có liên quan đến đáp ứng miễn dịch thứ phát (IgM là kháng thể chính liên quan đến đáp ứng chính). Immunoglobulin G có thể liên kết các mầm bệnh, như vi rút, vi khuẩn và nấm, và do đó bảo vệ cơ thể chống lại nhiễm trùng và độc tố. Bao gồm tới 80% các kháng thể được tìm thấy trong cơ thể người, Immunoglobulin G là kháng thể nhỏ nhất nhưng phong phú nhất của con người và của các động vật có vú khác. Immunoglobulin G có thể được tìm thấy trong tất cả các chất dịch cơ thể, và là kháng thể duy nhất có thể bảo vệ thai nhi bằng cách đi qua nhau thai của người mẹ.

Kháng thể IgG được tạo ra sau khi chuyển đổi lớp và trưởng thành của phản ứng kháng thể, do đó chúng tham gia chủ yếu vào đáp ứng miễn dịch thứ phát. Đáp ứng tiên phát được thực hiện bởi IgM và được tiếp sau đó bằng tăng nồng độ IgG. Immunoglobulin G ghi nhớ kháng nguyên vì vậy lần tiếp xúc tiếp theo với kháng nguyên, hệ thống miễn dịch sẽ đáp ứng ngay bằng IgG.

Immunoglobulin G được tiết ra dưới dạng monome có kích thước nhỏ cho phép nó dễ dàng tưới máu các mô. Đây là kháng thể duy nhất có các thụ thể để tạo điều kiện cho việc đi qua nhau thai của người mẹ vào thai nhi, do đó nó cung cấp kháng thể bảo vệ cho thai nhi trong tử cung. Cùng với IgA tiết ra trong sữa mẹ, Immunoglobulin G còn được hấp thu qua nhau thai cung cấp cho trẻ sơ sinh một hệ miễn dịch dịch thể trước khi hệ thống miễn dịch riêng của mình phát triển. Sữa non chứa tỷ lệ cao Immunoglobulin G, đặc biệt là sữa non của bò. Ở những người có khả năng miễn dịch trước mầm bệnh, Immunoglobulin G xuất hiện khoảng 24 đến 48 giờ sau khi kích thích kháng nguyên.

Hình 2: IgG trong sữa mẹ cung cấp kháng thể cho trẻ nhỏ

Do đó, trong sáu tháng đầu đời, trẻ sơ sinh có các kháng thể giống như mẹ và đứa trẻ có thể tự bảo vệ mình trước tất cả các mầm bệnh mà người mẹ gặp phải trong đời (ngay cả khi chỉ tiêm phòng) cho đến khi các kháng thể này giảm dần và biến mất hoàn toàn khi trẻ được 5 tháng tuổi. Chức năng này của immunoglobulin rất quan trọng đối với trẻ sơ sinh vì chúng rất nhạy cảm với nhiễm trùng, đặc biệt là trong hệ hô hấp và tiêu hóa. Sự tổng hợp Immunoglobulin G ở trẻ nhỏ chỉ được bắt đầu vào tháng thứ 3 sau khi trẻ được sinh rồi phát triển và tăng dần để đạt được đến giá trị như người lớn khi trẻ được 2 tuổi.

Immunoglobulin G cũng tham gia vào việc điều chỉnh các phản ứng dị ứng. Một trong hai con đường gây sốc phản vệ toàn thân là kháng nguyên liên kết chéo IgE với thụ thể tế bào mast, kích thích giải phóng cả histamin và tiểu cầu, yếu tố (PAF).

Kháng thể Immunoglobulin G có thể ngăn ngừa sốc phản vệ qua trung gian IgE bằng cách chặn một kháng nguyên cụ thể trước khi nó liên kết tế bào mast với IgE. Do đó, các kháng thể IgG ngăn chặn sốc phản vệ toàn thân do một lượng nhỏ kháng nguyên gây ra nhưng có thể làm trung gian cho sốc phản vệ toàn thân do một lượng kháng nguyên lớn hơn gây ra. 

Việc xét nghiệm immunoglobulin G có thể hỗ trợ chẩn đoán cho một số tình trạng, chẳng hạn như viêm gan tự miễn, nếu được chỉ định bởi một số triệu chứng nhất định. Trên lâm sàng, nồng độ kháng thể IgG đo được thường được coi là biểu hiện cho tình trạng miễn dịch của một cá nhân đối với các mầm bệnh cụ thể.  

2. Xét nghiệm Immunoglobulin G 

Hình 3: Xét nghiệm IgG

Bác sĩ có thể yêu cầu thực hiện xét nghiệm để:

  • Chẩn đoán đa u tủy xương loại IgG.

  • Chẩn đoán các tình trạng thiếu hụt globulin miễn dịch loại IgG bẩm sinh hoặc mắc phải.

  • Chẩn đoán huyết thanh học đối với các bệnh nhiễm khuẩn và đánh giá tình trạng miễn dịch của người bệnh.

  • Xét nghiệm IgG không được chỉ định để chẩn đoán dị ứng. 

Giới hạn bình thường của Immunoglobulin G phụ thuộc vào độ tuổi. Ở người trưởng thành nồng độ này trong huyết thanh giao động từ 700 đến 1600 mg/dl.

Nồng độ Immunoglobulin G huyết thanh tăng trong các nguyên nhân thường gặp như:

  • Các bệnh lý đơn dòng như: bệnh đa u tủy xương dòng IgG, u tương bào biểu hiện ngoài tủy xương, u lympho, bệnh leukemia mạn tế bào lympho.

  • Các bệnh lý đa dòng như: bệnh sarcoidosis, các bệnh lý nhiễm trùng, bệnh gan mạn tính, bệnh xơ kết rải rác, giang mai thần kinh, bệnh do ký sinh trùng, thấp tim, các bệnh tự miễn ( như hội chứng lupus ban đỏ).

  • Suy dinh dưỡng nặng cũng là nguyên nhân gây tăng IgG.

Giảm nồng độ Immunoglobulin G thường do những nguyên nhân:

  • Hội chứng mất protein.

  • Có thai.

  • Bệnh đa u tủy xương không phải IgG.

  • Bệnh tăng macroglobulin máu Waldenstrom.

  • Thiếu hụt miễn dịch thể dịch tiên phát.

  • Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS).

  • Kết hợp với các tính trạng giảm globulin miễn dịch khác do mắc phải hay bẩm sinh.

Tất cả các Immunoglobulin miễn dịch đều có vai trò rất lớn trong việc bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân gây hại cho nên khi thấy có bất kỳ nguy cơ tiếp xúc với tác nhân gây hại hay có bất kỳ sự thay đổi nào trong cơ thể cần phải đến các cơ sở y tế để thăm khám ngay. Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC làm việc tất cả các ngày trong tuần và luôn có hệ thống nhân viên y tế trực 24/24 cùng với các dịch vụ y tế và dịch vụ chăm sóc khách hàng luôn luôn nỗ lực để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân trên khắp cả nước.

Đăng ký khám, tư vấn

Tại sao nên chọn bệnh viện đa khoa MEDLATEC

Bệnh viện đa khoa nhiều năm kinh nghiệm.
Đội ngũ giáo sư, bác sĩ đầu ngành
Đội ngũ giáo sư, bác sĩ đầu ngành
Cơ sở vật chất hiện đại
Áp dụng thanh toán bảo hiểm y tế lên tới 100%
Quy trình khám chữa bệnh nhanh chóng
Chi phí khám chữa bệnh hợp lý.

Tin cùng chuyên mục

Ý nghĩa của các xét nghiệm theo dõi, chẩn đoán bệnh viêm gan B

Viêm gan B là bệnh nhiễm trùng gan phổ biến nhất thế giới và gây ra những biến chứng nghiêm trọng nếu không được điều trị kịp thời. Xét nghiệm chính là “tiêu chuẩn vàng” hỗ trợ đắc lực các bác sĩ trong chẩn đoán và theo dõi bệnh.
Ngày 22/08/2022

Tìm hiểu thông tin đầy đủ thông tin về Adenovirus

Theo nhiều nghiên cứu, virus Adeno là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở người và động vật gây nhiễm trùng đường hô hấp hoặc viêm kết mạc, viêm niêm mạc mắt, tiêu chảy,... Do đó, việc có đầy đủ thông tin sẽ giúp người dân chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm để điều trị bệnh kịp thời.  
Ngày 20/05/2022

Ung thư túi mật (GBC): Giá trị của các dấu ấn sinh học trong chẩn đoán, theo dõi và tiên lượng

Nồng độ CA 19-9, CA125 và CA242 trong huyết thanh ở bệnh nhân ung thư túi mật cao hơn một cách có ý nghĩa so với ở bệnh túi mật lành tính và ở nhóm đối chứng khỏe mạnh. Sự kết hợp các dấu ấn khối u CA 19-9, CA125 và CA242 có thể hữu ích cho chẩn đoán ung thư túi mật.
Ngày 29/04/2022