Các tin tức tại MEDlatec

MEDLATEC ghi dấu ấn với 3 báo cáo giá trị tại Hội nghị Khoa học lần thứ 28

Ngày 30/11/2025
Tham vấn y khoa: TS.BS Trịnh Thị Quế
Góp phần vào thành công của hội nghị, các chuyên gia của MEDLATEC mang đến những chuyên đề báo cáo với hàm lượng kiến thức chuyên môn giá trị, thiết thực trong thực hành lâm sàng.

Hội nghị kết nối chuyên môn, nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị 

Gian hàng của MEDLATEC nhận được sự quan tâm của nhiều đại biểu thăm gia hội nghị 

Trong 2 ngày 28 và 29/11, tại tỉnh Phú Thọ, Hội Hóa sinh Y học Việt Nam tổ chức hội nghị khoa học Hội Hóa sinh Y học Hà Nội và các tỉnh phía Bắc lần thứ 28. 

Sự kiện có sự tham dự của:

  • GS.TS.BS Nguyễn Huy Ngọc - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ;
  • TS.BS Lê Hồng Trung - Giám đốc Sở Y tế Phú Thọ;
  • GS.TS Nguyễn Văn Kính - Lãnh đạo Tổng hội Y học Việt Nam;
  • Cùng Chủ tịch, Phó Chủ tịch các Hội Hóa sinh Y học Vùng, Miền trên toàn quốc và hơn 800 đại biểu là chuyên gia, bác sĩ, nhà quản lý các đơn vị y tế.

Hội nghị không chỉ là sự kiện khoa học thường niên quan trọng mà còn là diễn đàn để: Giới thiệu các công trình nghiên cứu mới nhất trong lĩnh vực Hóa sinh Y học; Kết nối chuyên môn giữa các nhà khoa học, bệnh viện, trường đại học và doanh nghiệp trong ngành; Cập nhật các chuẩn mực xét nghiệm y học hiện đại, hướng đến nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị; Góp phần nâng cao vị thế của Hóa sinh Y học Việt Nam trong khu vực và quốc tế.

Đại biểu đến từ Hệ thống Y tế MEDLATEC chụp hình cùng lãnh đạo Hội Hóa sinh Y học Việt Nam

Với ý nghĩa thiết thực đó, bằng tinh thần không ngừng học hỏi và chia sẻ kiến thức chuyên môn, đại diện Hệ thống Y tế MEDLATEC tham dự hội nghị gồm có: PGS.TS Phạm Văn Trân - Chuyên gia Hóa sinh, Trung tâm Xét nghiệm MEDLATEC; TS.BS Trịnh Thị Quế - Giám đốc vận hành hệ thống xét nghiệm, Giám đốc Trung tâm Xét nghiệm, Hệ thống Y tế MEDLATEC; ThS.BSNT Trần Văn Chiều - Trưởng phòng Hóa sinh, Trung tâm Xét nghiệm MEDLATEC; BS. Triệu Thùy Anh - Phó phòng Hóa sinh - Trung tâm Xét nghiệm MEDLATEC; ông Nguyễn Mạnh Tuấn - Phó Giám đốc MEDLATEC Phú Thọ; ông Nguyễn Thế Tài - Trưởng phòng Tại nhà MEDLATEC Phú Thọ. 

Trong 2 ngày diễn ra hội nghị, đội ngũ báo cáo viên MEDLATEC đóng góp 3 nội dung nghiên cứu giá trị, thực tiễn, nhận được sự quan tâm của đông đảo đại biểu tham dự. 

Công bố nghiên cứu: Đặc điểm nhạy cảm với các dị nguyên protein ở trẻ em dị ứng đạm sữa bò và một số yếu tố liên quan 

ThS.BSNT Trần Văn Chiều mang tới hội nghị báo cáo với chủ đề “Đặc điểm nhạy cảm với các dị nguyên protein ở trẻ em dị ứng đạm sữa bò và một số yếu tố liên quan” 

Trong ngày đầu diễn ra hội nghị, ThS.BSNT Trần Văn Chiều mang tới báo cáo với chủ đề “Đặc điểm nhạy cảm với các dị nguyên protein ở trẻ em dị ứng đạm sữa bò và một số yếu tố liên quan”. Báo cáo được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu gồm: PGS.TS. Phạm Văn Trân, TS.BS Trịnh Thị Quế, ThS.BSNT Trần Văn Chiều và BS. Triệu Thùy Anh

dị ứng đạm sữa bò (Cow’s Milk Protein Allergy – CMPA) là một trong những dạng dị ứng thực phẩm thường gặp nhất ở trẻ nhỏ, đặc biệt trong những năm đầu đời.  

Tỷ lệ mắc dị ứng đạm sữa bò trên toàn cầu ước tính khoảng 2,0–7,5% ở trẻ em với xu hướng ngày càng gia tăng, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ do hạn chế dinh dưỡng, tăng nguy cơ thiếu hụt vitamin và khoáng chất. 

Đặc điểm nhạy cảm với dị nguyên protein ở trẻ em dị ứng đạm sữa bò (Cow’s Milk Protein Allergy – CMPA) đóng vai trò quan trọng trong dịch tễ, lâm sàng và quản lý bệnh. Trên cơ sở này, ThS.BSNT Trần Văn Chiều cùng các cộng sự tại MEDLATEC đã thực hiện nghiên cứu xác định tỷ lệ nhạy cảm với các dị nguyên protein ở trẻ em chẩn đoán CMPA trong giai đoạn 2024-2025 và công bố kết luận như sau: 

  • Trong 228 trẻ em được chẩn đoán CMPA, tỷ lệ nhạy cảm với IgE đặc hiệu dị nguyên phân tử Beta-lactoglobulin chiếm tỷ lệ cao nhất (71,1%).  
  • Tỷ lệ nhạy cảm với đồng thời nhiều dị nguyên phân tử protein ở trẻ em dị ứng đạm sữa bò là 75%. 
  • Có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ nhạy cảm với Alpha-lactalbumin, Beta-lactoglobulin ở nam và nữ. 

Từ đó, nhóm nghiên cứu đưa ra khuyến nghị rằng, xét nghiệm xác định dị nguyên phân tử protein nhạy cảm là cần thiết cho mục đích chẩn đoán, hỗ trợ điều trị, phòng ngừa và quản lý CMPA. 

Tầm quan trọng của xét nghiệm trong ghép tạng 

TS.BS Trịnh Thị Quế trình bày báo cáo với chủ đề “Các xét nghiệm trong ghép tạng” 

Báo cáo tiếp theo được trình bày bởi TS.BS Trịnh Thị Quế với chủ đề “Các xét nghiệm trong ghép tạng”, tập trung phân tích vai trò của xét nghiệm trong đảm bảo an toàn cho người nhận và tối ưu hiệu quả ghép tạng tại Việt Nam.  

Báo cáo chỉ ra rằng, số người tự nguyện đăng ký hiến tạng tại Việt Nam tiếp tục tăng, hiện đã vượt mốc 143 nghìn người. Hoạt động hiến tạng từ người chết não cũng ghi nhận tăng, với 41 trường hợp trong năm 2024 và 50 trường hợp chỉ trong 8 tháng đầu năm 2025. Những con số này phản ánh tiềm năng lớn của Việt Nam trong lĩnh vực ghép tạng. Tuy vậy, để biến nguồn tạng quý giá thành cơ hội cứu sống thêm nhiều bệnh nhân, vẫn còn không ít rào cản cần được tháo gỡ. 

Xét nghiệm là bước nền tảng để đảm bảo an toàn cho người nhận và xác định mức độ hòa hợp giữa người cho (hiến) và người nhận.  

Theo TS. Quế, các xét nghiệm thực hiện khi ghép tạng được chia thành 2 giai đoạn: trước ghép và sau ghép. 

      • Trước ghép: đánh giá hòa hợp tổ chức và sàng lọc vi sinh.
      • Sau ghép: theo dõi nồng độ thuốc chống thải ghép để duy trì hiệu quả điều trị và hạn chế độc tính; xét nghiệm vi sinh để phát hiện các tác nhân nhiễm khuẩn tiềm tàng có nguy cơ tái hoạt do dùng thuốc ức chế miễn dịch; và xét nghiệm đánh giá chức năng tạng ghép nhằm phát hiện sớm suy tạng, tắc mạch, xuất huyết, thiếu máu, giảm tiểu cầu do thuốc hoặc tình trạng viêm.

      Trong phần kết luận, TS. Quế đưa ra 3 nhận định cốt lõi. Thứ nhất, nhu cầu ghép tạng tại Việt Nam vẫn rất cao. Thứ hai, ghép tạng không phải là phương pháp điều trị triệt để, yêu cầu người nhận phải được theo dõi y tế và sử dụng thuốc suốt đời. Thứ ba, các xét nghiệm trong ghép tạng là một quy trình phức tạp, đòi hỏi sự chuẩn hóa cao và thực hiện thường xuyên. 

      Qua đó thấy rằng, để nâng cao hiệu quả ghép tạng, bên cạnh nguồn tạng hiến, việc chuẩn hóa và ứng dụng đầy đủ hệ thống xét nghiệm là chìa khóa nhằm tối ưu hóa kết quả điều trị và kéo dài thời gian sống của tạng ghép. 

      Ý nghĩa của xét nghiệm kháng thể ANA bằng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp trong chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh mô liên kết 

      Tại phiên thứ ba của hội nghị, BS. Triệu Thùy Anh đại diện nhóm nghiên cứu (TS.BS Trịnh Thị Quế, ThS.BSNT Trần Văn Chiều và BS. Triệu Thùy Anh) trình bày bài báo cáo với chủ đề “Đặc điểm xét nghiệm kháng thể kháng nhân (ANA) bằng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFT) ở nhóm bệnh nhân nghi ngờ bệnh mô liên kết tại trung tâm xét nghiệm MEDLATEC”. 

      Bệnh mô liên kết là một nhóm bệnh lý tự miễn (CTD), đặc trưng bởi tình trạng rối loạn miễn dịch gây viêm mạn tính, tổn thương mô liên kết (gồm mô sợi, mô mỡ, mô xương, mô sụn, mô máu, mô bạch huyết…). 

      Hệ thống cơ quan thường bị ảnh hưởng: da, khớp, cơ, mạch máu, phổi, tim, thận, hệ thần kinh, hệ máu… 

      Cơ chế bệnh sinh: tự kháng thể chống lại các cấu trúc nội bào hoặc ngoại bào dẫn tới tổn thương viêm mạn, xơ hóa và suy chức năng cơ quan. 

      Bác sĩ Triệu Thùy Anh trình bày báo cáo tại hôi nghị 

      Theo BS. Thùy Anh, tại Việt Nam, nghiên cứu về ANA bằng IFT chủ yếu tập trung vào bệnh tự miễn hệ thống và thường so sánh với các phương pháp khác. Chưa có nhiều nghiên cứu về tỷ lệ dương tính với các loại kiểu hình và phân tích các kiểu hình bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp trên nhóm bệnh mô liên kết.  

      Do đó, đề tài nghiên cứu này được thực hiện nhằm 2 mục tiêu:  

      • Mô tả đặc điểm kiểu hình của các loại kháng thể kháng nhân bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFT) ở bệnh nhân nghi ngờ mô liên kết. 
      • Đánh giá tỷ lệ dương tính của các loại kiểu hình kháng thể kháng nhân và mối liên quan với lâm sàng. 

      Kết quả nghiên cứu trên 1.516 bệnh nhân đến khám tại Hệ thống Y tế MEDLATEC từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2025 với các triệu chứng nghi ngờ bệnh mô liên kết cho thấy:  

      • Tỷ lệ dương tính với kháng thể ANA ở bệnh nhân nghi ngờ mô liên kết khá cao là 62.1% 
      • Tỷ lệ dương tính với kháng thể ANA ở bệnh nhân nghi ngờ mô liên kết khá cao là 62.1% 
      • Đối tượng có triệu chứng bệnh mô liên kết cao nhất ở độ thuổi 31-40 sau đó là 41-50, thấp hơn ở trẻ nhỏ và người già. 
      • Tỷ lệ bệnh mô liên kết gặp ở nữ cao hơn ở nam với tỷ lệ nữ lên đến 71.8%. 
      • Tỷ lệ dương tính với ANA cao nhất ở nhóm Nuclear với tỷ lệ 66.59%, sau đó đến nhóm Cytoplasmic chiếm 27.38%, cuối cùng là nhóm Mitotic với tỷ lệ 6.03%.  
      • Các kiểu hình gặp tỷ lệ cao nhất là Speckled (AC-2,4,5) với tỷ lệ dương tính lên đến 40.88%, sau đó đến kiểu hình speckled (AC-18,19,20) chiếm 18.84%. Không gặp các kiểu hình Rods and rings (AC-23) và mitotic chromosomal coat (AC-28). 
      • Tỷ lệ gặp dương tính với nhiều loại kiểu hình chiếm khá cao: 28.9%. 

      Trong 82 trường hợp được chẩn đoán bệnh mô liên kết cho thấy: 

      • Có 100 kiểu hình dương tính. 19.5% các trường hợp dương tính với 2 hoặc 3 kiểu hình khác nhau, đặc biệt ở bệnh xơ cứng bì có 5 trường hợp được chẩn đoán thì 2 trường hợp có kiểu hình dạng Mixed, bệnh viêm da cơ gặp 10 trường hợp thì có 2 trường hợp dạng Mixed. Tỷ lệ gặp kiểu hình dạng kết hợp ở SLE, MCTD và UCTD là: 21.2%; 20%, và 12.5%.  
      • Kiểu hình gặp nhiều nhất ở SLE là AC-4 sau đó đến AC-2. 

      Từ nghiên cứu trên, BS. Thùy Anh đưa ra khuyến nghị, nên làm xét nghiệm kháng thể ANA bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang kết hợp với các kháng thể tự miễn khác trong chẩn đoán và theo dõi điều trị các bệnh mô liên kết. 

      Với hàm lượng chuyên môn cao và những thông tin cập nhật giá trị, cả ba bài báo cáo đã nhận được sự quan tâm đặc biệt từ đông đảo đại biểu tham dự. 

      BSCKII Trần Hoài Nam - Phó Chủ tịch thường trực Hội Hóa sinh y học Việt Nam 

      BSCKII Trần Hoài Nam - Phó Chủ tịch thường trực Hội Hóa sinh Y học Việt Nam, Chủ tịch hội Hóa sinh Y học Hà Nội và các tỉnh phía Bắc cho hay: “3 báo cáo đến từ MEDLATEC đã xuất sắc được chọn lựa bởi hội đồng chuyên môn từ gần 100 nội dung báo cáo do y bác sĩ trên toàn quốc gửi về. Điều này minh chứng cho năng lực chuyên môn vượt trội cũng như nỗ lực, quyết tâm trên hành trình khẳng định vị thế hàng đầu trong lĩnh vực Hóa sinh nói riêng và xét nghiệm nói chung”.  

      PGS.TS Nguyễn Gia Bình đưa ra đánh giá về chất lượng xét nghiệm nói riêng và năng lực chuyên môn nói chung của MEDLATEC  

      Là người trực tiếp lựa chọn và thẩm định các báo cáo tham gia hội nghị, PGS.TS Nguyễn Gia Bình - Phó Chủ tịch Hội Hóa sinh Hà Nội và các tỉnh phía Bắc nhận xét: “Hiếm có đơn vị y tế tư nhân nào chú trọng công tác nghiên cứu khoa học như MEDLATEC. Ba báo cáo của đơn vị trong khuôn khổ hội nghị hôm nay có nội dung rất vững, chuyên sâu và được chuẩn bị nghiêm túc.

      Bên cạnh đó, với vai trò là người trực tiếp tham gia đánh giá chất lượng ISO tại các phòng xét nghiệm trên toàn quốc, tôi đánh giá cao năng lực chuyên môn, chất lượng vận hành cũng như sự đầu tư bài bản, đồng bộ về hệ thống máy móc và trang thiết bị của MEDLATEC”. 

      Song song với việc trình bày các chuyên đề tại hội nghị, trong tháng 11, nhóm nghiên cứu của MEDLATEC còn có 3 bài báo được đăng trên tạp san Y học cộng đồng.

      Hy vọng rằng, các nghiên cứu dày công, giàu thực tiễn từ nhóm tác giả MEDLATEC đã góp phần cung cấp thêm kiến thức chuyên môn hữu ích đến đông đảo bác sĩ tham dự, từ đó góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị bệnh cho người dân.   

      Lựa chọn dịch vụ

      Quý khách hàng vui lòng lựa chọn dịch vụ y tế theo nhu cầu!

      Lấy mẫu xét nghiệm tại nhà

      Lấy mẫu xét nghiệm tại nhà giúp khách hàng chủ động tầm soát bệnh lý. Đồng thời tiết kiệm thời gian đi lại, chờ đợi kết quả với mức chi phí hợp lý.

      Đặt lịch thăm khám tại MEDLATEC

      Đặt lịch khám tại cơ sở khám chữa bệnh thuộc Hệ thống Y tế MEDLATEC giúp chủ động thời gian, hạn chế tiếp xúc đông người.